vanban.org

Bản án 34/2025/DS-ST — Tranh chấp cá nhân<>

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay.

Buộc bị đơn bà Trần Thị Mỹ Liêng có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay số tiền vốn và lãi còn nợ tổng cộng là: 4.441.823 đồng. Trong đó: Gốc: 4.239.729 đồng; lãi 202.094 đồng. Kể từ ngày 13/3/2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị Mỹ Liêng còn phải tiếp tục trả lãi…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp cá nhân<> — án dân sự — "Công Ty Cổ phần Sawad tiền có ngay - Nguyễn Sĩ Phú Xuân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay.
  • Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/DS-ST
Ngày 29-8-2025
V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Bích Khiếm

Các Hội Thẩm nhân dân:

Ông Hà Văn Châu.

Ông Nguyễn Trần Anh Duy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 110/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng cầm cố theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S.

Trụ sở chính: Số 128 ND, phường TV, NA (Địa chỉ cũ: Số 128 ND, phường BT, thành phố V, tỉnh NA).

Đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT, chức vụ: Giám đốc TNHH SRISAWAD.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ liên hệ: Số 30 PL, Phường PL, thành phố CT (Địa chỉ cũ: Số 30 PL, Phường H, thành phố ST, tỉnh ST). (Theo Quyết định số 322/2024/UQ-SVN ngày 07/10/2024 của Giám đốc về việc Ủy quyền thực hiện hoạt động tố tụng).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Sĩ Phú X, sinh ngày 17/03/1986. Địa chỉ thường trú: Số 615 Quốc Lộ 1, khóm B, phường PL, thành phố CT (Địa chỉ cũ: Số 615 QL 1, khóm B, phường H, thành phố ST, tỉnh ST) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2025 của nguyên đơn Công ty Cổ phần S, quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh T trình bày như sau:

Vào ngày 09/07/2022, ông Nguyễn Sĩ Phú X có đến Chi nhánh Sóc Trăng của Công ty tại địa chỉ: Số 47 Lê Hồng Phong, Phường 3, Thành Phố Sóc Trăng, Sóc Trăng để ký hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo hợp đồng số: STM220701008NA17X được ký giữa các bên ngày 09/07/2022 số đăng ký Giao dịch đảm bào trên Hệ thống Đăng ký Trực tuyến của Cục đăng ký Quốc Gia: Giaodichdambao/botuphap: theo web: https://dktructuyen.moj.gov.vn/

Thì Nguyễn Sĩ Phú X có ký hợp đồng cầm cố tài sản là: 01 xe môtô hai bánh BKS: 83P3-108.55; Loại xe: Honda SH 125I, màu: Đỏ Đen; Số khung: 7311GY010886, số máy: JF74E0010686; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 254799 Do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 25/05/2019 để lấy số tiền là 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng); thời hạn cầm cố là 18 tháng (từ 09/07/2022 - 09/01/2024) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng.

Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho Nguyễn Sĩ Phú X.

Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho Nguyễn Sĩ Phú X mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ ngày 06/08/2024 đến ngày 06/09/2024 địa điểm trả xe là tại Chi nhánh Sóc Trăng. Ông Nguyễn Sĩ Phú X có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: "Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận".

Quá trình trả nợ Nguyễn Sĩ Phú X chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty, đến nay đã quá hạn hợp đồng hiện tại trễ 874 ngày. Ông Nguyễn Sĩ Phú Xkhông trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty.

Nhân viên của Công ty đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và đến nhà Nguyễn Sĩ Phú Xtại địa chỉ: 615 Quốc Lộ 1, khóm 4, phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng nhưng đều không gặp. Công ty đã tạo rất nhiều điều kiện về thời gian để ông Nguyễn Sĩ Phú X trả lại tiền hoặc tài sản là xe máy đã cầm cố cho Công ty nhưng Nguyễn Sĩ Phú Xkhông thực hiện.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 28/8/2025 người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần S ông Nguyễn Thanh T thay đổi yêu cầu như sau:

Yêu cầu ông Nguyễn Sĩ Phú X phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cầm cố số STM220701008NA17X, giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh Sóc Trăng - Công ty TNHH Srisawad Việt Nam ngày 09/7/2022 với tổng số tiền 24.674.316 đồng (hai mươi bốn triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn ba trăm mười sáu đồng) tạm tính đến ngày 29.8.2025 bao gồm: Gốc: 18.951.815 đồng; lãi trong hạn (tính từ ngày 10/9/2022-09/01/2024), lãi suất (1.1%/ tháng) số tiền 3.335.519 đồng, lãi quá hạn (tính từ ngày 10/01/2024-29/8/2025), lãi suất (1.65%/tháng) số tiền: 2.386.981 đồng.

Ngoài ra ông Nguyễn Sĩ Phú X còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 30/8/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Không yêu cầu các khoản phí: Phí mượn xe 7.056.000 đồng (2.1%/tháng); Phí quản lý hồ sơ 1.516.145 đồng (0.5%/tháng); Phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán 4.263.211 đồng; Phí thanh lý hợp đồng trước hạn 113.934 đồng.

Công ty Cổ Phần S tự nguyện trả lại bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 254799, biển số đăng ký 83P3-108.55 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 25/5/2019 cho ông Nguyễn Sĩ Phú X, khi ông X thanh toán hết nợ gốc và lãi cho nguyên đơn.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Sĩ Phú X: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến gì. Toà án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng ông Nguyễn Sĩ Phú X không gửi văn bản cho Toà án biết về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. ông Nguyễn Sĩ Phú X cũng không đến Toà án để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, không đến tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ trình bày ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71; 72; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ, tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến trình bày của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Sĩ Phú X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ vay và bị đơn có nơi cư trú tại phường Phú Lợi, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Sĩ Phú X phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe đã ký với Công ty Cổ phần S - Chi nhánh Sóc Trăng theo Hợp đồng cầm cố số STM220701008NA17X ngày 09/7/2022, kèm thỏa thuận thuê tài sản đã ký với Công ty Cổ phần S - Chi nhánh Sóc Trăng tạm tính đến ngày 29/8/2025 bao gồm: Gốc: 18.951.815 đồng; Lãi trong hạn: 3.335.519 đồng, lãi quá hạn: 2.386.981 đồng. Tổng cộng: 24.674.316 đồng và xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu về tính Phí mượn xe; Phí quản lý hồ sơ; Phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán; Phí thanh lý hợp đồng trước hạn. Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về nội dung: Theo các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh và tài liệu do nguyên đơn cung cấp, căn cứ khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử công nhận trên thực tế giữa Công ty Cổ phần S và ông Nguyễn Sĩ Phú X có giao kết hợp đồng số: STM220701008NA17X ngày 09/7/2022 để cầm cố tài sản là: 01 xe môtô hai bánh BKS: 83P3-108.55; Loại xe: Honda SH 125I màu: Đỏ Đen; Số khung: RLHJF7311GY010886, số máy: JF74E0010686 theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 254799 Do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 25/5/2019 cho ông Nguyễn Sĩ Phú Xđể lấy số tiền 21.000.000 đồng; thời hạn cầm cố 18 tháng (từ ngày 09/7/2022 đến ngày 09/01/2024) với mức lãi suất 1,1%/tháng. Theo hợp đồng cầm cố thì Công ty Sawad đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho ông Xuân. Do nhu cầu có xe đi lại hàng ngày nên cùng ngày ông X và Công ty S thỏa thuận thuê tài sản để sử dụng. Trong thỏa thuận thuê tài sản có ghi rõ thời hạn mượn xe từ ngày 06/8/2024 đến ngày 06/9/2024 địa điểm trả xe tại chi nhánh thành phố Sóc Trăng. Ông Nguyễn Sĩ Phú Xcó cam kết trong giấy mượn xe “hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”. Quá trình trả nợ, ông Nguyễn Sĩ Phú X chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty, đến nay đã quá hạn hợp đồng, ông Nguyễn Sĩ Phú X không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty, còn nợ lại số tiền gốc 18.951.815 đồng.

Xét thấy, Hợp đồng cầm cố tài sản được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp phù hợp với quy định với Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông X biết nhưng ông Xkhông có ý kiến phản đối gì. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông X không trả tiền gốc và lãi cho Công ty khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ theo giao kết trong hợp đồng cầm cố, đã vi phạm Điều 4 của Hợp đồng cầm cố tài sản và Điều 4 của phụ lục hợp đồng mà các bên đã ký kết, ông X là người có lỗi, là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn Công ty yêu cầu bị đơn ông X phải trả cho Công ty số tiền gốc còn nợ 13.758.997 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 280, Điều 309, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại hợp đồng cầm cố tài sản số STM220701008NA17X được ký giữa các bên ngày 09/7/2022 giữa Công ty và ông Nguyễn Sĩ Phú X đã giao kết mức lãi suất là 1,1%/tháng; lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Do đó, mức lãi suất của hợp đồng các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định tại khoản 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn theo hợp đồng đã giao kết. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm hợp đồng mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Như vậy, ông X phải có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền lãi trong hạn là 3.335.519 đồng theo giao kết của hợp đồng từ ngày 10/9/2022 đến ngày 09/01/2024 là có căn cứ, phù hợp với nội dung thỏa thuận về việc trả nợ gốc lãi, chuyển nợ quá hạn tại hợp đồng cầm cố tài sản đã ký kết nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu tiếp tục tính lãi: Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Sĩ Phú X phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi với lãi suất theo Hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 30/8/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ. Xét thấy, yêu cầu tiếp tục tính lãi của nguyên đơn là phù hợp với Hợp đồng cầm cố ký ngày 09/7/2022 và không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, bị đơn ông Nguyễn Sĩ Phú X phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền gốc còn nợ là 18.951.815 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.335.519 đồng, lãi quá hạn là 2.386.981 đồng, tổng cộng là 24.674.316 đồng.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 28/8/2025 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Trường hợp ngay sau khi ông Nguyễn Sĩ Phú X thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi sẽ giao trả lại cho ông X bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 254799, biển số đăng ký 83P3-108.55 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 25/5/2019 cho ông Nguyễn Sĩ Phú X đối với 01 xe môtô hai bánh BKS: 83P3-108.55; Loại xe: Honda SH 125I màu: Đỏ Đen; Số khung: RLHJF7311GY010886, số máy: JF74E0010686 đứng tên ông Nguyễn Sĩ Phú Xnên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn ông Nguyễn Sĩ Phú X phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 1.233.716 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, các Điều 92; Điều 95, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 244; Khoản 1 Điều 273, Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 280, Điều 309, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S.

2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Sĩ Phú X có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần S số tiền vốn và lãi còn nợ tổng cộng là: 24.674.316 đồng. Trong đó: Gốc: 18.951.815 đồng; lãi trong hạn: 3.335.519 đồng, lãi quá hạn: 2.386.981 đồng.

Kể từ ngày 30/8/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Sĩ Phú X còn phải tiếp tục trả lãi trên số tiền gốc còn nợ theo lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng cầm cố số STM220701008NA17X được ký giữa các bên ngày 09/7/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.

3. Ngay sau khi ông Nguyễn Sĩ Phú X thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần S có trách nhiệm trả lại cho ông X bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 254799, biển số đăng ký 83P3-108.55 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 25/5/2019 cho ông Nguyễn Sĩ Phú Xđối với 01 xe môtô hai bánh BKS: 83P3-108.55; Loại xe: Honda SH 125I màu: Đỏ Đen; Số khung: RLHJF7311GY010886, số máy: JF74E0010686 đứng tên ông Nguyễn Sĩ Phú Xuân.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn Công ty Cổ phần S không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn Công ty Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 878.067 đồng theo biên lai thu số 0000159 ngày 21/3/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ).

Bị đơn Nguyễn Sĩ Phú Xphải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.233.716 đồng.

5. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP.Cần Thơ;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND khu vực 5-Cần Thơ;

Đã ký

- Phòng THADS khu vực 5-Cần Thơ;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lý Bích Khiếm

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 34/2025/DS-ST

Ngày 12-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Bích Khiếm

Các Hội Thẩm nhân dân:

Ông Đào Khel.

Ông Nguyễn Phước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gíp – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 465/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng cầm cố theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Sawad tiền có ngay.

Trụ sở chính: Số 128 Nguyễn Du, phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lam Trường (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ liên hệ: Số 30 Phú Lợi, Phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. (Theo Quyết định số 447/2023/UQ-SVN ngày 01/02/2024 của Giám đốc về việc Ủy quyền thực hiện hoạt động tố tụng).

- Bị đơn: Bà Trần Thị Mỹ Liêng, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 1017/10 Đường Trần Hưng Đạo, Khóm 1, Phường 10, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/10/2024 của nguyên đơn Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay, quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Lam Trường như sau:

Vào ngày 29/03/2024 bà Trần Thị Mỹ Liêng có đến Chi nhánh TP. Sóc Trăng 1 của Công ty tại địa chỉ: Số 47 Lê Hồng Phong, Phường 3, Thành Phố Sóc Trăng, Sóc Trăng, để ký hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo hợp đồng số: STM240301019NA20X được ký giữa các bên ngày 29/03/2024 số đăng ký Giao dịch Đảm bảo trên Hệ thống Đăng ký Trực tuyến của Cục đăng ký Quốc Gia: Giaodichdambao/botuphap thì bà Trần Thị Mỹ Liêng có ký hợp đồng cầm cố tài sản là:

+ 01 xe môtô hai bánh BKS: 83P4-379.94

+ Loại xe: HONDA FUTURE FI màu: BẠC NÂU ĐEN

+ Số khung : RLHJC765XLY032211, số máy: JC90E0043274;

+ Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 305260 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 24/09/2020 Để lấy số tiền là 9.414.894 đồng (Chín triệu bốn trăm mười bốn ngàn tám trăm chín mươi bốn đồng); thời hạn cầm cố là 12 tháng (từ 29/03/2024-29/03/2025) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng.

Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho Bà Trần Thị Mỹ Liêng.

Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho bà Trần Thị Mỹ Liêng mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ 29/03/2024 - 29/04/2024 địa điểm trả xe là tại Chi nhánh Sóc Trăng. Bà Trần Thị Mỹ Liêng có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: "Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận".

Từ ngày vay đến ngày 30/10/2024 bà Liêng đã thanh toán cho Công ty được vốn gốc là 5.175.165 đồng, lãi đã thanh toán 554.617 đồng, phí đã thanh toan 252.099 đồng, phí mượn xe 2.532.593 đồng, phí phạt 337.526 đồng. Tổng 8.852.000 đồng.

Quá trình trả nợ bà Trần Thị Mỹ Liêng chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty, đến nay đã quá hạn hợp đồng hiện tại trễ 55 ngày, bà Trần Thị Mỹ Liêng không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty. Nhân viên của Công ty đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và đến nhà bà Trần Thị Mỹ Liêng tại địa chỉ: Số 1017/10 Đường Trần Hưng Đạo, khóm 1, phường 10, Thành Phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng nhưng đều không gặp. Công ty đã tạo rất nhiều điều kiện về thời gian để bà Trần Thị Mỹ Liêng trả lại tiền hoặc tài sản là xe máy đã cầm cố cho Công ty nhưng bà Trần Thị Mỹ Liêng không thực hiện và có biểu hiện trốn tránh.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 12/3/2025 người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần sawad tiền có ngay ông Nguyễn Lam Trường thay đổi yêu cầu như sau:

Yêu cầu bà Trần Thị Mỹ Liêng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh Sóc Trăng – thành phố Sóc Trăng 1 - Công Ty Cổ Phần Sawad Tiền Có Ngay theo Hợp đồng cầm cố số STM240301019NA20X, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh Sóc Trăng – thành phố Sóc Trăng 1 - Công Ty Cổ Phần Sawad Tiền Có Ngay ngày 29/03/2024 số tiền 4.441.823 đồng tạm tính đến ngày 12/3/2025 bao gồm: Gốc: 4.239.729 đồng; Lãi trong hạn: 202.094 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kể cho đến khi thanh toán xong nợ.

Không yêu cầu các khoản phí: Phí mượn xe; Phí quản lý hồ sơ; Phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán; Phí thanh lý trước hạn.

Ngoài ra bà Trần Thị Mỹ Liêng còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 24/10/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Công ty Cổ Phần Sawad Tiền Có Ngay tự nguyện trả lại bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 305260, biển số đăng ký 83P4-379.94 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 24/9/2020 cho bà Trần Thị Mỹ Liêng, khi bà Liêng thanh toán hết nợ gốc và lãi cho nguyên đơn.

- Đối với bị đơn bà Trần Thị Mỹ Liêng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến gì. Toà án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng bà Trần Thị Mỹ Liêng không gửi văn bản cho Toà án biết về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. bà Trần Thị Mỹ Liêng cũng không đến Toà án để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, không đến tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71; 72; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ, tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến trình bày của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Lam Trường vắng mặt, có đơn xin vắng mặt, bị đơn bà Trần Thị Mỹ Liêng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ vay và bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc bà Trần Thị Mỹ Liêng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe đã ký với Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay - Chi nhánh Sóc Trăng theo Hợp đồng cầm cố số STM240301019NA20X ngày 29/3/2024, kèm giấy mượn xe đã ký với Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay - Chi nhánh Sóc Trăng tạm tính đến ngày 12/3/2025 bao gồm: Gốc: 5.175.165 đồng; Lãi: 246.683 đồng tổng cộng: 5.421.848 đồng và xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về tính Phí mượn xe; Phí quản lý hồ sơ; Phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán; Phí thanh lý trước hạn. Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu là phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung: Theo các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh và tài liệu do nguyên đơn cung cấp, căn cứ khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử công nhận trên thực tế giữa Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay và bà Trần Thị Mỹ Liêng có giao kết hợp đồng số: STM240301019NA20X ngày 29/3/2024 để cầm cố tài sản là: 01 xe môtô hai bánh BKS: 83P4-379.94; Loại xe: HONDA FUTURE FI màu: Nâu Đen; Số khung: RLHJC765XLY03221, số máy: JC90E0043274 theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 305260 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 24/9/2020 cho bà Trần Thị Mỹ Liêng để lấy số tiền 9.414.894 đồng; thời hạn cầm cố 12 tháng (từ 29/03/2024 đến 29/03/2025) với mức lãi suất 1,1%/tháng. Theo hợp đồng cầm cố thì Công ty Sawad đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho bà Trần Thị Mỹ Liêng. Do nhu cầu có xe đi lại hàng ngày nên cùng ngày bà Trần Thị Mỹ Liêng và Công ty Sawad có ký giấy mượn xe để sử dụng. Trong giấy mượn xe có ghi rõ thời hạn mượn xe từ 29/3/2024 đến 29/4/2024 địa điểm trả xe tại chi nhánh Sóc Trăng. Bà Trần Thị Mỹ Liêng có cam kết trong giấy mượn xe “hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”. Quá trình trả nợ, bà Trần Thị Mỹ Liêng chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty, đến nay đã quá hạn hợp đồng, bà Trần Thị Mỹ Liêng không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty, còn nợ lại số tiền gốc 4.239.729 đồng.

Xét thấy, Hợp đồng cầm cố tài sản được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp phù hợp với quy định với Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà Liêng biết nhưng bà Liêng không có ý kiến phản đối gì. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Liêng không trả tiền gốc và lãi cho Công ty khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ theo giao kết trong hợp đồng cầm cố, đã vi phạm Điều 4 của Hợp đồng cầm cố tài sản và Điều 4 của phụ lục hợp đồng mà các bên đã ký kết, bà Liêng là người có lỗi, là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn Công ty yêu cầu bị đơn bà Liêng phải trả cho Công ty số tiền gốc còn nợ 5.421.848 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 280, Điều 309, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại hợp đồng cầm cố tài sản số STM240301019NA20X được ký giữa các bên ngày 29/3/2024 giữa Công ty và bà Trần Thị Mỹ Liêng đã giao kết mức lãi suất là 1,1%/tháng; lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Do đó, mức lãi suất của hợp đồng các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định tại khoản 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn theo hợp đồng đã giao kết. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm hợp đồng mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Như vậy, bà Liêng phải có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền lãi trong hạn là 202.094 đồng theo giao kết của hợp đồng từ ngày 30/10/2024 đến ngày 12/3/2025 là có căn cứ, phù hợp với nội dung thỏa thuận về việc trả nợ gốc lãi, chuyển nợ quá hạn tại hợp đồng cầm cố tài sản đã ký kết nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu tiếp tục tính lãi: Nguyên đơn yêu cầu bà Trần Thị Mỹ Liêng phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi với lãi suất theo Hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 29/3/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Xét thấy, yêu cầu tiếp tục tính lãi của nguyên đơn là phù hợp với Hợp đồng cầm cố ký ngày 29/3/2024 và không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, bị đơn bà Trần Thị Mỹ Liêng phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền gốc còn nợ là 4.239.729 đồng, tiền lãi trong hạn theo giao kết trong hợp đồng đến ngày 12/3/2025 là 202.094 đồng, tổng cộng là 4.441.823 đồng.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt có yêu cầu thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ngày 24/10/2024 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Trường hợp ngay sau khi bà Trần Thị Mỹ Liêng thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi sẽ giao trả lại cho bà Liêng bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 305260 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 24/9/2020 cho bà Trần Thị Mỹ Liêng đối với 01 xe môtô hai bánh BKS: 83P4-379.94; Loại xe: HONDA FUTURE FI màu: Nâu Đen; Số khung: RLHJC765XLY03221, số máy: JC90E0043274 đứng tên bà Trần Thị Mỹ Liêng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn bà Trần Thị Mỹ Liêng phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, các Điều 92; Điều 95, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 244; Khoản 1 Điều 273, Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 280, Điều 309, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay.

2. Buộc bị đơn bà Trần Thị Mỹ Liêng có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay số tiền vốn và lãi còn nợ tổng cộng là: 4.441.823 đồng. Trong đó: Gốc: 4.239.729 đồng; lãi 202.094 đồng.

Kể từ ngày 13/3/2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị Mỹ Liêng còn phải tiếp tục trả lãi trên số tiền gốc còn nợ theo lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng cầm cố số STM240301019NA20X được ký giữa các bên ngày 29/3/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

3. Ngay sau khi bà Trần Thị Mỹ Liêng thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay có trách nhiệm trả lại cho bà Liêng bản gốc bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 305260 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 24/9/2020 cho bà Trần Thị Mỹ Liêng đối với xe môtô hai bánh BKS: BKS: 83P4-379.94; Loại xe: HONDA FUTURE FI màu: Nâu Đen; Số khung: RLHJC765XLY03221, số máy: JC90E0043274 đứng tên bà Trần Thị Mỹ Liêng.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn Công ty Cổ phần SAWAD tiền có ngay số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002177 ngày 25/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Bị đơn Trần Thị Mỹ Liêng phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

5. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Bích Khiếm

Cỡ chữ