- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo LT phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày: 22-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Bích.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thành Tâm.
2. Bà Lý T Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 255/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
LT, sinh năm 2000 tại tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ thường trú: Ấp CL, xã LH, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Khơ me; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C, sinh năm không rõ và bà Lâm Thị L, sinh năm 1978; bị cáo có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 03/3/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 07/3/2022.
Ngày 20/12/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 299/2023/HS-ST ngày 20/12/2023.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Bố Lá. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Quang M, sinh năm 2001; trú tại: Thôn Bảo An Đông, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Nguyễn Quốc T, sinh năm 2002; trú tại: Khu phố 3B, phường TH, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Huỳnh Văn B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Nguyễn Quang M có mối quan hệ bạn bè quen biết với anh Huỳnh Văn B. Khoảng tháng 11/2020, B quen với LT, thấy T không có chỗ ở nên B rủ T về ở chung với B tại phòng trọ số 9 nhà trọ Kim Ngân thuộc khu phố An Lợi, phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 09/11/2020, anh M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, biển số 61G1-673.79 đến phòng trọ của B chơi và xin ngủ lại. Trước khi đi ngủ, M dắt xe mô tô biển số 61G1-673.79 vào trong phòng, rút chìa khóa xe để trên bàn trong phòng trọ. B ngủ trên gác, còn M và T ngủ dưới nền gạch. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, T thức dậy và nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của M làm phương tiện đi lại nên giả vờ hỏi mượn xe mô tô của M đi công việc. Do mới quen biết T nên M không đồng ý. Ngay sau đó, M đi vào phòng vệ sinh đi vệ sinh, thì T ở ngoài lén lút lấy chìa khóa và xe mô tô biển số 61G1-673.79 điều khiển xe chạy về nhà trọ của mình tại khu vực huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Trên đường đi, B gọi điện thoại cho T kêu T mang xe trả lại cho M thì T tắt máy. Khoảng 02 ngày sau, T điều khiển xe mô tô biển số 61G1-673.79 đến tiệm phế liệu tại khu vực Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh mua được 01 biển số (không rõ) thay, gắn vào xe mô tô của anh M và vứt biển số 61G1-673.79 ở ven đường, rồi sử dụng để đi lại.
Sau khi bị T chiếm đoạt xe, đến ngày 18/11/2020, anh M đến Công an phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát trình báo vụ việc. Công an Hòa lợi đã tiếp nhận tố giác tội phạm và chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Bến Cát thụ lý theo thẩm quyền. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Bến Cát đã ra Quyết định truy nã đối với bị cáo LT để tiến hành truy bắt và điều tra, xử lý theo quy định.
Theo Bản Kết luận định giá ngày 01/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của thị xã Bến Cát, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Winner màu trắng đen biển số 61G1-673.79 có trị giá 27.160.000 đồng.
Đối với xe mô tô biển số 61G1-673.79, xe do anh Trần Nguyễn Quốc T đứng tên giấy đăng ký. Năm 2018, anh Trung bán xe cho anh Nguyễn Quang M nhưng không làm thủ tục sang tên.
Đến ngày 07/12/2020, T sử dụng ma túy bị Công an phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính và xét nghiệm T dương tính với ma túy. Sau đó, T bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc torng thời hạn 15 tháng, đến ngày 07/3/2022 T chấp hành xong (hồ sơ lập với thông tin là Lâm Chí T do bị cáo LT cố ý khai sai thông tin cá nhân để trốn truy nã).
Ngày 01/6/2023, bị cáo LT bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ để điều tra về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra trên địa bàn ấp 6, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (hồ sơ lập với thông tin là Nguyễn Chí T do bị cáo LT cố ý khai sai thông tin cá nhân để trốn truy nã).
Ngày 14/9/2023, sau quá trình xác M, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh xác định bị cáo Nguyễn Chí T chính lá bị cáo LT đang được Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Bến Cát truy nã nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh đã có Thông báo số 6434 gửi đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Bến Cát để phục vụ điều tra.
Quá trình điều tra, LT đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Đối với xe mô tô biển số 61G1-673.79 của anh Nguyễn Quang M, LT khai: Ngày 07/12/2020, T bị Công an phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính và thu giữ xe mô tô 61G1-673.79. Tuy nhiên, theo kết quả xác M thì lực lượng Công an phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ xe mô tô biển số 61G1-673.79.
Tại bản Cáo trạng số 268/CT-VKSBC ngày 30/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo LT về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo LT về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo LT mức án từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”.
- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị căn cứ Điều 46, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên buộc bị cáo bồi thường số tiền 27.160.000 đồng giá trị chiếc xe mô tô biển số 61G1-673.79 cho ông Nguyễn Quang M.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo LT đã khai nhận: Khoảng 04 giờ ngày 09/11/2020, tại phòng trọ số 09 nhà trọ Kim Ngân thuộc khu phố An Lợi, phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, LT có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 61G1-673.79 trị giá 27.160.000 đồng của ông Nguyễn Quang M để làm phương tiện đi lại.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì động cơ tư lợi, bản chất tham lam nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả, thể hiện ý thức liều lĩnh và xem thường pháp luật.
Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 61G1-673.79 trị giá 27.160.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, 268/CT-VKSBC ngày 30/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo LT về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân:
Ngày 03/3/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 07/3/2022.
Ngày 20/12/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 299/2023/HS-ST ngày 20/12/2023.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Quang M yêu cầu bị cáo LT bồi thường giá trị tài sản chiếm đoạt theo như kết quả định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát là 27.160.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo cũng tự nguyện đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với xe mô tô biển số 61G1-673.79: Hiện vẫn được cơ quan CSĐT Công an thị xã Bến Cát truy tìm theo Thông báo truy tìm vật chứng số 01 ngày 03/3/2021 để xử lý theo quy định là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo LT phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo LT 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù theo Bản án số: 299/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 6 năm 2023.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Bị cáo LT có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Quang M số tiền 27.160.000 đồng (hai mươi B triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực thi hành và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa T toán hoặc T toán không đầy đủ, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải T toán cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí:
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo LT phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo LT phải chịu 1.358.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi tám nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Công an thị xã Bến Cát; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, VT. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lại Thị Ngọc Bích THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Duyên |