- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H- Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày 06 -3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Bống
Ông Nguyễn Văn Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngoãn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo: Lò Văn H, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1970 tại Phù Yên - Sơn La; nơi cư trú: Bản X, xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 03/10; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn N; con bà: Hà Thị Ô; bị cáo có vợ là Sầm Thị Ch, có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Năm 1995, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Năm 1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 08 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/01/2003. Bị cáo học hết lớp 3 thì nghỉ học, làm nghề lao động tự do tại địa phương; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/11/2023 đến nay; “có mặt”.
- Bị hại: Công ty TNHH một thành viên Tân Phát Sơn La, địa chỉ: Số nhà 134, quốc lộ 37, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Người đại diện hợp pháp: ông Mai Hải Lâm, sinh năm: 1976, chức vụ giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH một thành viên Tân Phát Sơn La, “vắng mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Trần Thị Quắt, sinh năm 1969, nơi cư trú: Tiểu khu 7, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “vắng mặt”.
+ Chị Sầm Thị Chương, sinh năm 1978, nơi cư trú: Bản Búc, xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 30 ngày 09/11/2023, Lò Văn H một mình điều khiển chiếc xe máy điện BKS: MĐ1-009.67 từ nhà đến khu vực Công viên 2/9 thuộc Tiểu khu 1, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên thì nhìn thấy một xe ép cọc bê tông đang dừng đỗ trên Công trường đang thi công Công viên, không có người trông coi. H nảy sinh ý định lấy trộm bình ắc quy để bán lấy tiền tiêu xài nên lén lút đến cạnh chiếc xe ép cọc bê tông. H dùng chiếc điện thoại di động của mình soi rồi dùng tay vặn núm dây bình ắc quy, tháo lấy 02 bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai, loại ắc quy nước 12V-70AH cho lên xe máy điện. Lấy trộm được 02 bình ắc quy, H chở đến nhà của Trần Thị Quắt, sinh năm: 1969, cư trú: Tiểu khu 7, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên bán cho chị Quắt với giá 715.000 đồng. Khi chị Quắt mua 02 chiếc bình ắc quy của H thì không biết do H trộm cắp mà có. Số tiền trên H đã chi tiêu cá nhân hết 365.000 đồng, còn lại 350.000 đồng H đưa cho vợ là Sầm Thị Chương cất giữ hộ. Ngày 11/11/2023, chị Chương giao nộp số tiền 350.000 đồng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La quyết định trưng cầu định giá tài sản. Kết luận định giá tài sản số 28/KLĐGTS ngày 13/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản- UBND huyện Phù Yên kết luận: “02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai, loại ắc quy nước 12V-70AH, đã qua sử dụng có tổng trị giá là 2.600.000 đồng”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá nêu trên.
Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 08/CT – VKS ngày 06/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Lò Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Kết thúc việc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Hành vi của bị cáo Lò Văn H đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 12 đến 16 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.Về vật chứng của vụ án: Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH một thành viên Tân Phát Sơn La 02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai, loại ắc quy nước 12V-70AH. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 350.000 đồng, do phạm tội mà có và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A12. Trả lại cho chị Sầm Thị Chương 01 chiếc xe máy điện XMEN-SPOST màu xanh đen, BKS: 26MĐ1-00967. Tiêu hủy 01 áo khoác màu xanh nhãn hiệu ST.Siella của Lò Văn H.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lò Văn H nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên.
Bị hại có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Trần Thị Quắt xác nhận là người đã bỏ ra số tiền 715.000 đồng để mua 02 chiếc bình ắc quy, chị Quắt không yêu cầu Lò Văn H phải hoàn trả số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Chị Sầm Thị Chương xác nhận có giữ hộ số tiền 350.000 đồng, khi biết khoản tiền do bị cáo phạm tội mà có chị Chương đã giao nộp số tiền trên cho Cơ quan Công an.
Kết thúc tranh luận, bị cáo trình bày lời nói sau cùng, bị cáo Lò Văn H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn H khai nhận đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, lén lút chiếm đoạt 02 chiếc bình ắc quy của Công ty TNHH một thành viên Tân Phát Sơn La. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại cũng như của những người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo kết luận định giá tài sản, chiếc bình ắc quy của Công ty TNHH một thành viên Tân Phát Sơn La có trị giá 2.600.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Như vậy, hành vi của bị cáo H đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ sở hữu tài sản của cá nhân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là trái pháp luật. Tuy nhiên, do hám lợi, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội. Bị cáo phạm tội do bột phát, không có đồng phạm.
Về nhân thân, năm 1995, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; năm 1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 08 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo học hết lớp 3 thì nghỉ học, làm nghề lao động tự do tại địa phương;
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn (bút lục số 161-163). Cho nên, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Công ty TNHH một thành viên Tân Phát Sơn La 02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai, loại ắc quy nước 12V-70AH là chủ sở hữu hợp pháp (bút lục 94-97), Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
Đối với số tiền 350.000 đồng, do phạm tội mà có và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A12 là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu XMEN-SPOST màu xanh đen, có BKS: 26MĐ1-00967 là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra, xác minh là tài sản chung của gia đình Lò Văn H, cần trả lại cho chị Sầm Thị Chương.
Đối với 01 áo khoác màu xanh nhãn hiệu ST.Siella của bị cáo H, do chiếc áo đã cũ nên bị cáo đề nghị tiêu hủy, Hội đồng xét xử cần ghi nhận;
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là 02 chiếc bình ắc quy, bị hại đã nhận lại và không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chị Trần Thị Quắt là người mua lại 02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai, loại ắc quy nước 12V-70AH. Chị Quắt không biết chiếc bình ắc quy do bị cáo H phạm tội mà có. Giao dịch dân sự do chị Quắt xác lập, thực hiện là ngay tình. Chị Quắt không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 715.000 đồng cũng như bất cứ khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Sầm Thị Chương (là vợ của Lò Văn H) có cầm hộ số tiền 350.000 đồng. Chị Chương hoàn toàn không biết đó là tiền do H thực hiện hành vi phạm tội mà có, chị Chương đã nộp toàn bộ số tiền 350.000 đồng cho Cơ quan điều tra. Hành vi của chị Chương không cấu thành tội phạm.
Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn H 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/11/2023 (ngày bị cáo bị tạm giữ). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng:
Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự;điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Ghi nhận quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra về việc trả lại cho Công ty TNHH một thành viên Tân Phát Sơn La 02 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai, loại ắc quy nước 12V-70AH.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 350.000 đồng, do phạm tội mà có và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A12.
Tiêu hủy 01 áo khoác màu xanh nhãn hiệu ST.Siella đã qua sử dụng của Lò Văn H (đựng trong hộp carton đã niêm phong).
Trả lại cho chị Sầm Thị Chương 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu XMEN-SPOST màu xanh đen, có BKS: 26MĐ1-00967.
3. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/3/2024); Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
- Bị hại (nếu có);
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Phù Yên; Giao
- Người bào chữa (nếu có);
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh;
- Cơ quan điều tra- CA huyện ;
- Cơ quan HSNV-CA huyện;
- CQ Thi hành án hình sự;
Gửi
- Trại TG (nhà tạm giam);
- Sở tư pháp tỉnh;
- Người có QL,NVLQ (nếu có);
Hoàng Tân Việt
- Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực);
- Lưu: HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị hại (nếu có);
- VKSND huyện Phù Yên; Giao
- Người bào chữa (nếu có);
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh;
- Cơ quan điều tra- CA huyện ;
- Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện;
- CQ Thi hành án hình sự;
Gửi
Hoàng Tân Việt
- Trại TG (nhà tạm giữ);
- Sở tư pháp tỉnh;
- Người có QL,NVLQ;Nguyên đơn ds (nếu có);
- Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực);
- Lưu: HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại (nếu có); - VKSND huyện Phù Yên; Giao - Người bào chữa (nếu có); - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Cơ quan điều tra- CA huyện ; - CQ Thi hành án hình sự; Gửi - Trại TG (nhà tạm giam); - Sở tư pháp tỉnh; - Người có QL,NVLQ (nếu có); - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực); - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tân Việt |