vanban.org

Bản án 34/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 06/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Lâm Thanh D 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lâm Thanh D cho Uỷ ban nhân dân xã NT, thành phố PY, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Thanh D phạm tội tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST
Ngày 06 - 3 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Sỹ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Lâm Thanh D, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1983 tại xã NT, thành phố PY, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn TC, xã NT, thành phố PY, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Quý H, sinh năm 1959 và bà Lưu Thị M (đã chết); có vợ là Phùng Thị M, sinh năm 1987 và có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/01/2024 đến ngày 27/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lâm Thị H, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn TC, xã NT, thành phố PY, tỉnh Vĩnh Phúc. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu tìm mua pháo để đốt trong dịp Tết Nguyên đán năm 2024, Lâm Thanh D, sinh năm 1983; HKTT: thôn TC, xã NT, TP PY, tỉnh Vĩnh Phúc thông qua các mối quan hệ xã hội biết có người sử dụng số điện thoại 0969.124.862 bán pháo hoa nổ. Ngày 20/01/2024, D sử dụng số điện thoại 0974.113.769 liên hệ với số điện thoại 0969.124.862 của người này đặt vấn đề hỏi mua 04 hộp pháo hoa nổ thì có người nam giới nghe máy và đồng ý bán pháo hoa nổ cho D với giá 3.000.000đồng và hẹn chiều ngày 25/01/2024 gặp nhau ở khu vực Khu công nghiệp BX 2, huyện BX để giao dịch mua bán. D đồng ý. Khoảng 17h00 ngày 25/01/2024, D một mình điều khiển xe mô tô BKS: 88H1-032.10 đi đến điểm hẹn. Khi đến khu công nghiệp BX 2, D gọi điện cho người nam giới này thì người này hướng dẫn D đi đến đoạn đường dân sinh thuộc địa phận TDP. ĐH, thị trấn BH, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc để gặp nhau. D tiếp tục điều khiển xe đi, đến nơi D thấy có 01 nam giới điều khiển xe mô tô Honda Airblade (không rõ BKS) đang đứng ở ven đường. D hỏi thì biết đây là người mà D đã liên hệ để mua pháo hoa nổ. Sau đó, người nam giới này chỉ cho D 01 thùng giấy cát tông để ở ven đường và nói là pháo hoa nổ để trong đó. D lại gần, mở ra để kiểm tra thì thấy bên trong có 04 hộp pháo hoa nổ. Sau đó do chưa có sẵn tiền để thanh toán nên D đề nghị nam giới này cho D nợ đến khi về nhà thì D sẽ chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng để thanh toán thì người này đồng ý rồi điều khiển xe bỏ đi. Sau đó D bê thùng giấy cát tông bên trong có chứa 04 hộp pháo hoa nổ vừa mua được để vào giá để đồ giữa xe mô tô rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi D đi đến đoạn đường dân sinh thuộc TDP. ĐH, thị trấn BH, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc (đoạn gần đi ra đến đường TL310B) thì bị Công an huyện Bình Xuyên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ hàng cấm (pháo hoa nổ)

Tang vật thu giữ: 04 khối hộp được gói bằng giấy màu in ký tự chữ nước ngoài bên trong có 49 ống trụ tròn liên kết với nhau và có 01 dây dẫn thò ra ngoài; 01 thùng cát tông; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng; 01 xe mô tô BKS: 88H1-032.10.

Kết quả giám định:

Ngày 25/01/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Bình Xuyên trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với 04 khối hộp đã thu giữ có phải là pháo không? là loại pháo gì? Khối lượng là bao nhiêu? Tại bản kết luận giám định số 263 ngày 27/1/2024 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: 04 khối hộp của mẫu ký hiệu A gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ) có tổng khối lượng là 6, 257kg ( Sáu phẩy hai năm bảy kilogam, không kể hộp giấy catton niêm phong bao gói).

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 32/QĐ-VKS ngày 19 tháng 02 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố Lâm Thanh D về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; xử phạt Lâm Thanh D từ 10 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động chính trong gia đình, thu nhập không ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa catton và số mẫu vật được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định A= 2,883 kg mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong.

Đối với 01 ĐTDĐ Redmi màu xanh thu giữ của D xác định là tài sản hợp pháp của D sử dụng để liên lạc mua bán pháo hoa do vậy cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 88H1- 032.10 xác định là tài sản của chị Lâm Thị H, SN: 1985 ở thôn TC, xã NT, TP PY, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 24/01/2024 chị H cho D mượn xe để D đi làm, chị không biết D sử dụng xe để đi mua pháo hoa về để đốt, do vậy CQĐT không đề cập xử lý đối với chị H là phù hợp, đối với xe mô tô BKS: 88H1- 032.10 cần trả lại cho chị H là đúng quy định.

Trong vụ án này còn có người nam giới sử dụng số điện thoại 0969.124.862 - D khai là người đã bán pháo hoa nổ cho D, nhưng D không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Quá trình điều tra CQĐT Công an huyện Bình Xuyên đã có công văn gửi Tập đoàn công nghiệp viễn thông Quân đội cung cấp thông tin của số thuê bao 0969.124.862 tuy nhiên đến nay vẫn chưa có kết quả. CQĐT không có cơ sở để xác định ai là người sử dụng thẻ sim điện thoại có số trên nên. Do vậy CQĐT tách thành tin báo để tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17h00 ngày 25/01/2024 tại đoạn đường dân sinh thuộc địa phận TDP. ĐH, thị trấn BH, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc, Lâm Thanh D có hành vi tàng trữ 6,257kg pháo hoa nổ để sử dụng đốt trong dịp tết nguyên đán Giáp Thìn (2024) thì bị bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật. Hành vi nêu trên của Lâm Thanh D phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“1) Người nào tàng trữ…hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này thì bị phạt tiền từ 50.000.000đồng đến 300.000.000đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi pháo nổ là loại hàng hóa mà nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ …; Bị cáo đã mua pháo nổ mục đích mang về để đốt trong dịp tết nguyên đán 2024, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà nhà nước cấm mua bán, vận chuyển và tàng trữ…, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội nên cần xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Xét về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do vậy, cần tạo cho bị cáo một cơ hội, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã NT, thành phố PY, tỉnh Vĩnh Phúc nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Lâm Thanh D là lao động chính trong gia đình, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về vật chứng và các vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với 01 thùng bìa catton và số mẫu vật được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định A= 2, 883 kg mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 ĐTDĐ Redmi màu xanh thu giữ của D xác định là tài sản hợp pháp của D sử dụng để liên lạc mua bán pháo hoa do vậy cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 88H1- 032.10 xác định là tài sản của chị Lâm Thị H, SN: 1985 ở thôn TC, xã NT, TP Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 24/01/2024 chị H cho D mượn xe để D đi làm, chị không biết D sử dụng xe để đi mua pháo hoa về để đốt, do vậy CQĐT không đề cập xử lý đối với chị H là phù hợp, đối với xe mô tô BKS: 88H1- 032.10 cần trả lại cho chị H là đúng quy định.

Trong vụ án này còn có người nam giới sử dụng số điện thoại 0969.124.862 - D khai là người đã bán pháo hoa nổ cho D, nhưng D không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Quá trình điều tra CQĐT Công an huyện Bình Xuyên đã có công văn gửi Tập đoàn công nghiệp viễn thông Quân đội cung cấp thông tin của số thuê bao 0969.124.862 tuy nhiên đến nay vẫn chưa có kết quả. CQĐT không có cơ sở để xác định ai là người sử dụng thẻ sim điện thoại có số trên. Do vậy CQĐT tách thành tin báo để tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lâm Thanh D 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lâm Thanh D cho Uỷ ban nhân dân xã NT, thành phố PY, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 thùng bìa catton và số mẫu vật được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định A= 2, 883 kg mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong.

Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Redmi màu xanh của bị cáo Lâm Thanh D.

Trả lại cho chị Lâm Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, BKS: 88H1- 032.10.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Bình Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên lập ngày 19 tháng 02 năm 2024).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lâm Thanh D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ