- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V được ly hôn với bà Nguyễn Huyền V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11/4/2024 V/v“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Tường Viên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Chung
Bà Lê Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân – Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 776/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V – Sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn N, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn:
Bà Nguyễn Huyền V – Sinh năm 2000
Địa chỉ: Tổ 2, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn – ông Nguyễn Văn V trình bày:
Ông và bà Nguyễn Huyền V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2017 nhưng đến năm 2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và không có tiếng nói chung nên vợ chồng hay kình cãi và đã không còn chung sống với nhau một năm. Nay không còn tình cảm nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Huyền V.
Về con chung: Ông và bà V có 01 con chung tên Nguyễn Phúc Gia K, sinh ngày 16/12/2017. Ông yêu cầu giao con chung cho bà V nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại đơn đề nghị xin vắng mặt ngày 02/4/2024, bị đơn – bà Nguyễn Huyền V trình bày: Hiện nay Tòa án đang xử vụ án ly hôn giữa bà và ông V nhưng do đi làm xa, không xin nghỉ được nên xin vắng mặt. Ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Phúc Gia K, sinh ngày 16/12/2017 hiện tại bà đang nuôi con và yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung không có.
* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa trình bày quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: nguyên đơn yêu cầu ly hôn là có cơ sở vì tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: ông V và bà V có 01 con chung Nguyễn Phúc Gia K, sinh ngày 16/12/2017, xét cháu K còn nhỏ, hiện đang được bà V nuôi dưỡng nên đề nghị chấp nhận yêu cầu giao con chung cho bà V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: ông V phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Huyền V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Huyền V.
Về thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Huyền V có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Do đó Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: Ông V yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với bà V nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Huyền V tự nguyện chung sống, kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19/2019, cấp ngày 25 tháng 02 năm 2019. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Huyền V là hợp pháp.
Theo lời trình bày của nguyên đơn thì sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vả và vợ chồng đã không còn quan tâm, chung sống với nhau một năm là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Bà V có đơn xét xử đề nghị vắng mặt vì bận làm ăn xa và không có ý kiến gì về quan hệ hôn nhân.
Xét thấy cuộc sống vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau nhưng cuộc sống chung giữa ông V và bà V không hạnh phúc, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông V và bà V có 01 con chung tên Nguyễn Phúc Gia K, sinh ngày 16/12/2017. Tại tòa, ông V yêu cầu giao con chung cho bà V nuôi dưỡng vì từ khi không chung sống với nhau thì bà V là người trực tiếp nuôi con chung. Tại đơn xin vắng mặt ngày 02/4/2024, bà V trình bày hiện đang nuôi con chung Nguyễn Phúc Gia K và yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông V cấp dưỡng. Xét thấy, cháu K còn nhỏ và đang được bà V trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc tốt phù hợp kết quả xác minh tại địa phương.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và để đảm bảo cho cháu có đủ điều kiện phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội nên cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung Nguyễn Phúc Gia K, sinh ngày 16/12/2017 cho bà V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.
Sau khi ly hôn, ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà V không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát có quan điểm cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn và tranh chấp con chung là có cơ sở chấp nhận và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Quan điểm nói trên của vị đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Tòa án nên chấp nhận.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn V phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V được ly hôn với bà Nguyễn Huyền V.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phúc Gia K, sinh ngày 16/12/2017 cho bà Nguyễn Huyền V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Bà V không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung. Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001643 ngày 14/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Ông V đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã Ninh Hòa; - THADS thị xã Ninh Hòa; - UBND xã V; (GCNKH số 19/2019 ngày 25/02/2019); - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Huỳnh Tường Viên |