- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Th, cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST Ngày 19-02-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải
Ông Đặng Huy Du
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 19 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Th, sinh năm 2004; nơi ĐKHKTT: Khu 7, phường N, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, nơi tạm trú: Thôn 8, xã Ngũ Lão, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Anh Na J, sinh năm 1979; địa chỉ: 1-89 B, Osan-ri, Amtae-myeon, Sinan-gun, Jeollanam-do, Hàn Quốc.
Chị Trần Thị Th và anh Na J đều vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn là chị Trần Thị Th trình bày:
Chị Trần Thị Th và anh Na J kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 21/4/2023. Sau khi kết hôn, anh Na J về lại Hàn Quốc để làm thủ tục cho chị Th sang Hàn Quốc nhưng không được. Hàng tháng, anh Na J vẫn về Việt Nam thăm chị Th. Đến khoảng tháng 7/2023, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng ngôn ngữ và tính cách, anh Na J không về Việt Nam nữa. Anh chị sống ly thân từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau về mọi mặt. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng đoàn tụ, chị Th và anh Na J thống nhất ly hôn và đề nghị Tòa án thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Na J.
Về con chung: Anh chị không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Th và anh Na J không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn trình bày, Đơn xin ly hôn và Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt (đã được hợp pháp hóa lãnh sự), bị đơn là anh Na J trình bày như sau:
Anh Na J và chị Trần Thị Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 21/4/2023. Quá trình chung sống anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách, ngôn ngữ nên sau này chung sống sẽ không có hạnh phúc. Anh Na J cùng thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng cho anh và chị Th được ly hôn.
Về con chung: Anh chị không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Na J và chị Th không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị Th, anh Na J đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.
Tại phiên tòa, chị Th và anh Na J vắng mặt, chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền: Đây là vụ án về tranh chấp ly hôn. Nguyên đơn là chị Trần Thị Th hiện nay đang sinh sống ở Hải Phòng, bị đơn là anh Na J, quốc tịch Hàn Quốc, hiện nay đang sinh sống tại Hàn Quốc, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Trần Thị Th và bị đơn anh Na J vắng mặt và cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Na J và chị Trần Thị Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 21/4/2023 là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Cả hai anh chị cùng thừa nhận trong quá trình chung sống, bất đồng trong quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Nhận thấy anh chị hiện đã sống ly thân mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể đoàn tụ, cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Xét thấy việc thuận tình ly hôn của chị Th và anh Na J là tự nguyện không bị ép buộc, căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Th và anh Na J.
Về con chung: Chị Trần Thị Th và anh Na J không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị Th và anh Na J không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Th và anh Na J được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Th, cụ thể:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Th được ly hôn anh Na J.
2. Về con chung: Chị Trần Thị Th và anh Na J không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Th và anh Na J không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Th phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000021 ngày 22 tháng 01 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị Th đã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Trần Thị Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Anh Na J được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh (ĐKKH ngày 21/4/2023); - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đặng Huy Du Vũ Thị Minh Nguyệt | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |