- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thạch Kim N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN W TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST Ngày 23 - 4 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊNH W TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Cơ.
2. Bà Nguyễn Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 238/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023; về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thạch Kim N, sinh năm 2002;
Địa chỉ: Ấp T, xã Q, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lâm Bảo Y, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Ấp E, xã Q, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Thạch Kim N trình bày: Nguyên năm 2019, bà Thạch Kim N với ông Lâm Bảo Y xác lập quan hệ hôn nhân, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Q, huyện W, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 149 ngày 18/9/2020. Trong quá trình chung sống ông bà có một con chung là cháu Lâm Thanh H, sinh ngày 10/5/2019 (theo Giấy khai sinh số 979 ngày 18/9/2020); Hiện, cháu Lâm Thanh H sống với ông Lâm Bảo Y; không có tài sản chung, không có nợ chung và cũng không có người khác nợ vợ chồng. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường cải vả, phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và cả hai không có tiếng nói chung nên đã không còn chung sống vợ chồng.
Nay bà Thạch Kim N nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Kim N xin được ly hôn với ông Lâm Bảo Y.
- Về con chung: Bà Thạch Kim N đồng ý giao con chung là cháu Lâm Thanh H, sinh ngày 10/5/2019 cho ông Lâm Bảo Y tiếp tục, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến trưởng thành (tròn 18 tuổi); bà Thạch Kim N không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn Lâm Bảo Y: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 238/2023/TB-TLVA ngày 11/12/2023 và Thông báo (Về việc yêu cầu đương sự tự khai và cung cấp chứng cứ) số 283/2023/TB-TA ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng (nhận ngày 14/12/2023) nên ông Lâm Bảo Y đã biết nội dung, căn cứ khởi kiện và những vấn đề bà Thạch Kim N yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng ông Lâm Bảo Y không có văn bản trả lời theo Tòa án ấn định. Đồng thời, Tòa án đã thông báo và triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không tham gia và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xin vắng mặt và không có ý kiến khác nên xem như giữ nguyên nội dung đơn yêu cầu khởi kiện.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành đúng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về tố tụng:
[1] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Thạch Kim N yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với ông Lâm Bảo Y; Bà Thạch Kim N đồng ý giao con chung là cháu Lâm Thanh H, sinh ngày 10/5/2019 cho ông Lâm Bảo Y tiếp tục, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến trưởng thành (tròn 18 tuổi); bà Thạch Kim N không cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Trong vụ án bị đơn Lâm Bảo Y cư trú tại ấp E, xã Q, huyện W, tỉnh Sóc Trăng, vụ án được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp. Do vậy, Toà án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Thạch Kim N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn Lâm Bảo Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm mà vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
[II] Về nội dung:
[1] Nguyên đơn Thạch Kim N và bị đơn Lâm Bảo Y kết hôn với nhau là trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được UBND xã Q, huyện W, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 149 ngày 18/9/2020, nên quan hệ hôn nhân giữa anh bà Thạch Kim N với ông Lâm Bảo Y là hợp pháp. Sau khi kết bà Thạch Kim N và ông Lâm Bảo Y chung sống hạnh phúc và đã có một con chung là cháu Lâm Thanh H, sinh ngày 10/5/2019, theo bà Thạch Kim N trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn và bất hòa trong cuộc sống nên đã không còn chung sống vợ chồng từ năm 2021 cho đến nay. Bị đơn Lâm Bảo Y tuy không có ý kiến và không tham gia tố tụng nhưng biết về nội dung khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn Thạch Kim N mà không phản đối.
[2] Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn...; Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình...” và theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Do đó, bà Thạch Kim N hoặc ông Lâm Bảo Y cùng bà Thạch Kim N có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, nên ngày 05/12/2023 bà Thạch Kim N tự mình gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Lâm Bảo Y là phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Theo nguyên đơn Thạch Kim N trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn và bất hòa trong cuộc sống nên đã không còn chung sống vợ chồng, thời gian bà Thạch Kim N với ông Lâm Bảo Y phát sinh mâu thuẫn và không còn chung sống tính đến thời điểm khởi kiện và xét xử sơ thẩm là đã nhiều năm, nên mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, đến mức trầm trọng, làm cho cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được, tình cảm vợ chồng thật sự đã hết và về tương lai cũng không thể hàn gắn được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của các bên và đến việc nuôi dạy con cái, nay bà Thạch Kim N cương quyết ly hôn với ông Lâm Bảo Y. Do đó, theo bà Thạch Kim N yêu cầu xin được ly hôn với ông Lâm Bảo Y là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp.
[4] Về con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, cháu Lâm Thanh H, sinh ngày 10/5/2019 tính đến ngày xét xử sơ thẩm trên 36 tháng tuổi nhưng chưa đủ 07 tuổi nên quyết định giao các cháu cho ai trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu. Trên thực tế cháu Lâm Thanh H từ khi bà Thạch Kim N và ông Lâm Bảo Y không còn chung sống thì ông Lâm Bảo Y là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay. Cháu Lâm Thanh H hiện được ông Lâm Bảo Y nuôi dưỡng, chăm sóc tốt và tình cảm gắn bó với ông Lâm Bảo Y. Đồng thời, bà Thạch Kim N đồng ý giao con chung là cháy Lâm Thanh H cho ông Lâm Bảo Y nuôi dưỡng và hiện tại ông Lâm Bảo Y cũng có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi Lâm Thanh H, nếu thay đổi môi trường sống sẽ ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần (đời sống tâm sinh lý và tình cảm) và cuộc sống bình thường của cháu, nên sau khi ly hôn tiếp tục giao cháu Lâm Thanh H cho ông Lâm Bảo Y trực tiếp nuôi là hợp tình, hợp lý và có căn cứ pháp luật. Do vậy, theo bà Thạch Kim N yêu cầu sau khi ly hôn giao cháu Lâm Thanh H, sinh ngày 10/5/2019 cho ông Lâm Bảo Y trực tiếp nuôi đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi) là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con, bà Thạch Kim N không trực tiếp nuôi con và yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con; ông Lâm Bảo Y là người trực tiếp nuôi con nhưng không có yêu cầu; nên chấp nhận yêu cầu là bà Ngân không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi con điều kiện kinh tế của ông Lâm Bảo Y không đảm bảo nuôi con thì ông Lâm Bảo Y vẫn được quyền khởi kiện yêu cầu bà Thạch Kim N cấp dưỡng nuôi con (khi cháu Lâm Thanh H chưa tròn 18 tuổi) theo quy định tại Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[6] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại, theo bà Thạch Kim N xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh và tranh chấp thì sẽ khởi kiện và giải quyết theo quy định pháp luật.
[7] Từ những phân tích và nhận định như đã nêu trên, theo yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[8] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, nên được chấp nhận.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân theo mức án phí không giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; theo hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thạch Kim N.
- Về quan hệ hôn nhân: Đồng ý cho bà Thạch Kim N và ông Lâm Bảo Y được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Lâm Thanh H, sinh ngày 10/5/2019 cho ông Lâm Bảo Y trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Bà Thạch Kim N không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho bà Thạch Kim N theo quy định pháp luật, không ai có quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại: Theo bà Thạch Kim N không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thạch Kim N phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000122 ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện W, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Thạch Kim N đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
3. Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú) để xin Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hùng Nuôi |