- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Biện Văn Với và Phạm Văn Dũng " Tranh chấp xác định cha cho con""
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11/9/2024 V/v Tranh chấp xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Xuân Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thùy Lê và ông Phạm Ngọc Tân.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Biện Văn V – sinh năm 1988; Hộ khẩu thường trú: thôn C, xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở hiện nay: thôn T, xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên, có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Anh Phạm Văn D – sinh năm 1989, Địa chỉ: thôn H, xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên, vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Kiều Thị T – sinh năm 1992; Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Biện Văn V trình bày: Khoảng đầu năm 2023, giữa anh và chị Kiều Thị T có quan hệ tình cảm với nhau và có nảy sinh quan hệ tình dục. Nhưng trước đó khoảng năm 2019, giữa Kiều Thị T và anh Phạm Văn D đang trong giai đoạn hôn nhân nhưng sống ly thân. Ngày 06/6/2023, anh D và chị T được Tòa án nhân dân huyện Tuy An cho ly hôn theo Bản án số 15/2023/HNGĐ-ST, ngày 06/6/2023. Thời điểm này chị T đang có thai cháu Biện Trúc M (tên dự sinh) khoảng 05 tháng. Đến ngày 22/10/2023, chị T sinh cháu Biện Trúc M. Ngày 21/7/2023, anh và chị Kiều Thị T đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên. Anh nghi ngờ cháu Biện Trúc M – sinh ngày 22/10/2023 là con đẻ của anh nên đã tiến hành xét nghiệm ADN tại Viện công nghệ ADN - G. Ngày 07/12/2023, Viện công nghệ ADN - G có kết luận như sau: Biện Văn V có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Biện Trúc M, độ tin cậy >99,9999%. Vậy đề nghị Tòa án nhân huyện Tuy An xác định anh Biện Văn V là cha đẻ của cháu Biện Trúc M – sinh ngày 22/10/2023. Xác định cháu Biện Trúc M là con chung của anh và chị Kiều Thị T để anh làm giấy khai sinh cho cháu Biện Trúc M theo quy định của pháp luật.
Theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tuy An đã tiến hành hòa giải, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Phạm Văn D nhưng anh D không đến Toà án, không thực hiện nghĩa vụ của đương sự và vắng mặt.
Theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Kiều Thị T trình bày: Chị thống nhất với trình bày của anh Biện Văn V. Chị và anh V có nảy sinh quan hệ tình cảm và quan hệ tình dục trong thời gian chị còn quan hệ hôn nhân với anh D nhưng sống ly thân. Chị biết cháu M (tên dự sinh) là con của chị và anh V. Đã có kết quả giám định ADN ngày 07/12/2023, Viện công nghệ ADN - G có kết luận như sau: Biện Văn V có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Biện Trúc M, độ tin cậy >99,9999%. Chị và anh D đã được Tòa án nhân dân huyện Tuy An cho ly hôn theo Bản án số 15/2023/HNGĐ-ST, ngày 06/6/2023. Ngày 21/7/2023, chị và anh Biện Văn V đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên. Chị đề nghị Tòa án nhân huyện Tuy An xác định anh Biện Văn V là cha đẻ của cháu Biện Trúc M (tên dự sinh) – sinh ngày 22/10/2023. Xác định cháu Biện Trúc M là con chung của chị và anh Biện Văn V để anh chị làm giấy khai sinh cho cháu Biện Trúc M theo quy định của pháp luật.
Các bên đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt giữ nguyên yêu cầu. Bị đơn không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 88; 89, 91 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Biện Văn V. Xác định anh Biện Văn V là cha đẻ của cháu Biện Trúc M (tên dự sinh) – sinh ngày 22/10/2023. Xác định cháu Biện Trúc M là con chung của anh Biện Văn V và chị Kiều Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Biện Văn V khởi kiện yêu cầu xác định cha cho con với anh Phạm Văn D. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện A, tỉnh Phú Yên. Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thụ lý và giải quyết vụ án đúng quan hệ tranh chấp và đúng thẩm quyền quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự tại phiên tòa.
Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xác định cha cho con đối với bị đơn. Xét yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Đầu năm 2023, giữa anh V và chị T có quan hệ tình cảm và có nảy sinh quan hệ tình dục. Cùng thời gian này chị T đang trong quan hệ hôn nhân nhưng sống ly thân với anh Phạm Văn D. Ngày 22/10/2023, chị T sinh cháu Biện Trúc M (tên dự sinh). Chị T và anh D đã được Tòa án nhân dân huyện Tuy An cho ly hôn theo Bản án số 15/2023/HNGĐ-ST, ngày 06/6/2023. Cùng thời gian này chị T đang mang thai cháu Biện Trúc M (tên dự sinh) khoảng 5 tháng. Vì nghi ngờ cháu M (tên dự sinh) là con ruột của anh V nên anh V đã tiến hành xét nghiệm ADN. Ngày 07/12/2023, Viện công nghệ ADN - G có kết luận như sau: Biện Văn V có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Biện Trúc M, độ tin cậy >99,9999%.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Phạm Văn D nhưng anh D không đến Tòa án và không có lời trình bày nên không có cơ sở xem xét. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Kiều Thị T thống nhất như trình bày của anh V. Anh chị đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên vào ngày 21/7/2023.
Như vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định anh Biện Văn V là cha đẻ của cháu Biện Trúc M (tên dự sinh) – sinh ngày 22/10/2023. Cháu Biện Trúc M (tên dự sinh) là con chung của anh Biện Văn V và chị Kiều Thị T. Anh Phạm Văn D không phải là cha đẻ của cháu Biện Trúc M (tên dự sinh).
Về án phí: Anh Biện Văn V được miễn nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 28; Điều 35, Điều 227, Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82; Điều 88; Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định anh Biện Văn V là cha đẻ của cháu Biện Trúc M (tên dự sinh) – sinh ngày 22/10/2023. Cháu Biện Trúc M (tên dự sinh) là con chung của anh Biện Văn V và chị Kiều Thị T. Anh Phạm Văn D không phải là cha đẻ của cháu Biện Trúc M (tên dự sinh).
[2] Về án phí: Anh Biện Văn V được miễn nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[3] Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh - VKSND huyện; - UBND xã H, huyện A - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Xuân Hương |