vanban.org

Bản án 34/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị O, xác định: Anh Nguyễn Viết G, sinh năm 1995; đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng, là cha đẻ của cháu Nguyễn An N (tên khai sinh dự kiến), sinh ngày 14/01/2023.

Về án phí: Anh Nguyễn Viết G phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị O, xác định: Anh Nguyễn Viết G, sinh năm 1995; đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng, là cha đẻ của cháu Nguyễn An N (tên khai sinh dự kiến), sinh ngày 14/01/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28-6-2024
V/v tranh chấp xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Chi;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Bình;

2. Ông Vũ Đức Bình.

- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 129/2023/TLST-HNGĐ, ngày 29/12/2023 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27/5/2024 (Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐT-HNGĐ, ngày 19/6/2024), giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị O, sinh năm 1988; đăng ký thường trú: Thôn N, xã M, huyện K, tỉnh Hưng Yên; chỗ ở: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Viết G, sinh năm 1995; đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Minh P, sinh năm 1984; đăng ký thường trú: Thôn M, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Thôn L, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị O trình bày:

Chị Lê Thị O và anh Lê Minh P kết hôn với nhau từ năm 2012. Trong quá trình chung sống, do mâu thuẫn nên từ năm 2018, chị O và anh P sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân, chị O và anh Nguyễn Viết G có quan hệ tình cảm với nhau và sinh được 01 con chung dự kiến đặt tên là Nguyễn An N, sinh ngày 14/01/2023. Tháng 7/2022, chị O có đơn xin ly hôn anh P. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 53/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị O và anh P.

Ngày 01/3/2023, chị O và anh G đã làm xét nghiệm ADN cho cháu N. Tại kết quả xét nghiệm ADN số 3722H/2023 ngày 03/3/2023 của Công ty TNHH công nghệ di truyền Novagen kết luận: Anh Nguyễn Viết G và cháu Nguyễn An N có quan hệ huyết thống cha con.

Nay, để đảm bảo quyền lợi cho cháu Nguyễn An N, chị O đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng xác định: Anh Nguyễn Viết G là cha đẻ của cháu Nguyễn An N, sinh ngày 14/01/2023.

Bị đơn là anh Nguyễn Viết G trình bày:

Chị Lê Thị O và anh Lê Minh P kết hôn với nhau từ năm 2012. Do mâu thuẫn nên từ năm 2018, anh chị sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Trong thời gian chị O và anh P ly thân, anh G có quan hệ tình cảm với chị O và sinh được 01 con chung, dự kiến đặt tên là Nguyễn An N, sinh ngày 14/01/2023.

Ngày 01/3/2023, anh và chị O đã làm xét nghiệm ADN cho cháu N. Kết quả xét nghiệm ADN đã xác định: Anh và cháu N có quan hệ huyết thống cha con. Nay, chị O đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu N, anh đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 16/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Minh P trình bày:

Anh P và chị Lê Thị O kết hôn với nhau năm 2012. Đến năm 2018 do chị O ngoại tình nên anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi và không quan tâm đến nhau. Tháng 7/2022, chị O xin ly hôn anh; tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 53/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh và chị O. Nay, chị O yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Viết G là cha đẻ của cháu Nguyễn An N. Anh P khẳng định cháu Nguyễn An N không phải là con của anh, cháu N là con của ai thì anh không biết, anh đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu của chị O theo quy định pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ, xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các hoạt động tố tụng khác. Trình tự, thủ tục hỏi, tranh luận tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại Chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 88, Điều 90, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự, khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị O: Xác định anh Nguyễn Viết G là cha đẻ của cháu Nguyễn An N (tên khai sinh dự kiến), sinh ngày 14/01/2023. Về án phí: Anh Nguyễn Viết G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Chị Lê Thị O khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Viết G là cha đẻ của cháu Nguyễn An N; anh G hiện đang cư trú tại thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Minh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh P.

- Về nội dung:

Xét thấy, lời khai của chị Lê Thị O, anh Nguyễn Viết G, anh Lê Minh P phù hợp với nhau, phù hợp với kết quả xét nghiệm ADN số 3722H/2023 ngày 03/3/2023 của Công ty TNHH công nghệ di truyền Novgen và các tài liệu, chứng cứ khác do các đương sự cung cấp. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Cháu Nguyễn An N, sinh ngày 14/01/2023 và anh Nguyễn Viết G có quan hệ huyết thống cha con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của cháu N, cần căn cứ quy định tại Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị O, xác định: Anh Nguyễn Viết G, sinh năm 1995; đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng, là cha đẻ của cháu Nguyễn An N (tên khai sinh dự kiến), sinh ngày 14/01/2023.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của chị O được Tòa án chấp nhận. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án, anh G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị O, xác định: Anh Nguyễn Viết G, sinh năm 1995; đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng, là cha đẻ của cháu Nguyễn An N (tên khai sinh dự kiến), sinh ngày 14/01/2023.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Viết G phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, thông báo.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ