- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại tài sản"
- Tòa quyết gì? Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Hồng L về việc yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn Thế A bồi thường thiệt chiếc lắc 05 chỉ vàng 24 kara.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2024/DS-ST Ngày: 22/02/2024 V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Luân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Bữu Khánh
Ông Huỳnh Hoàng Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2022/TLST - DS, ngày 17 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Hồng L, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu vực 3, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Người làm chứng: Ông Lý Công T, sinh năm 1954. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Hồng L trình bày:
Vào ngày 16/12/2021 con gái chị L là cháu Nguyễn Thị Diễm M dương tính với bệnh Covid-19 nên chị đưa cháu M đến khai báo với Trạm y tế xã T. Sau đó Trạm y tế yêu cầu đưa cháu M đi cách ly tập trung, chị yêu cầu thông báo với chồng chị rồi mới đưa cháu đi cách ly nhưng Trạm y tế không đồng ý và báo cho lực lượng Công an xã T để cưỡng chế chị và cháu M đưa đến nơi cách ly tập trung để cách ly cháu M. Khi đó anh Nguyễn Thế A là Công an xã trực tiếp đè vật người chị và khóa tay chị bằng còng. Quá trình cưỡng chế chị L cho rằng bị mất 01 lắc tay 5 chỉ vàng 24 kara, sự việc xảy ra có ông Lý Công T chứng kiến.
Chị khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Thế A phải bồi thường thiệt hại cho chị 01 lắc tay 5 chỉ vàng 24 kara.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Thế A trình bày:
Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2021 anh nhận được điện thoại của lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã T yêu cầu anh đến Trạm y tế xã T để truy vết trường hợp dương tính với Covid 19 và vận động những người thuộc trường hợp phải cách ly đi cách ly tập trung. Khi anh đến Trạm y tế thì thấy có lãnh đạo Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân xã T và các đồng chí trong Ban chỉ huy Phòng chống dịch Covid 19 của xã. Lúc này có con của chị Phạm Hồng L bị dương tính với bệnh Covid 19 nên Ban chỉ huy phòng chống dịch và bản thân anh Nguyễn Thế A có vận động, giải thích cho con chị L đi cách ly tập trung nhưng chị L không chấp hành còn lớn tiếng thách thức. Sau đó sự việc được báo về trên, Ban chỉ huy phòng chống dịch Covid 19 của huyện Giồng Riềng đã điều xe y tế của Huyện đến và đã cưỡng chế đưa con chị L đi cách ly tập trung. Tuy nhiên, chị L không đồng ý và chống đối lực lượng làm nhiệm vụ. Sau đó chồng chị L đến tiếp tục chống đối lực lượng làm nhiệm vụ. Sau khi được giải thích thì chồng chị L cũng đồng ý cho chị L và con chị L đi cách ly tập trung.
Việc bà L cho rằng mất 01 lắc tay là không đúng vì qua xác minh của Công an xã T thì khi lên xe bà L vẫn còn đeo lắc tay.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị Phạm Hồng L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Thế A phải bồi thường cho chị 01 lắc tay 5 chỉ vàng 24 kara.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế A không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị L.
- Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tuy nhiên, chưa đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc chị Phạm Hồng L yêu cầu anh Nguyễn Thế A bồi thường là không có căn cứ để chấp nhận, bởi không có chứng cứ chứng minh chị L có mất tấm lắc như chị trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng:
Chị Phạm Hồng L khởi kiện anh Nguyễn Thế A yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản do anh Thế A trong quá trình thực hiện nhiệm vụ làm mất tài sản của chị L. Chị Phạm Hồng L yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp chưa có văn bản đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định xác định rõ hành vi của anh Nguyễn Thế A là trái pháp luật nên không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính theo quy định tại khoản 5 Điều 3, Điều 8, Điều 17 của Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước. Do đó HĐXX xác định đây là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Về nội dung:
Chị Phạm Hồng L cho rằng trong quá trình anh Nguyễn Thế A cưỡng chế chị để đưa đi cách ly tập trung đã làm mất chiếc lắc 05 chỉ vàng 24 kara, có sự chứng kiến của ông Lý Công T (là người chạy xe ôm chở chị thời điểm đó). Tại Biên bản xác minh ngày 22/02/2022 của Công an xã T xác minh anh Nguyễn Văn Q là nhân viên y tế của Bệnh viện Giồng Riềng, người trực tiếp đưa chị L và con chị L đi đến khu cách ly xác định: Khi đến Trạm y tế xã T để đưa chị L và con chị L đi cách ly thì không thấy có vàng rơi tại nơi xảy ra sự việc và khi lên xe chị L vẫn còn đeo 01 lắc vàng. Biên bản xác minh ngày 22/02/2022 của Công an xã T xác minh ông Dương Hoàng D là Trưởng Trạm y tế xã T cũng xác định tại thời điểm xảy ra sự việc ông không thấy có vàng bị rơi tại nơi cưỡng chế chị L. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/4/2023 của Tòa án chị L cũng không yêu cầu Tòa án xác minh lại lời khai của ông Nguyễn Văn Q và ông Dương Hoàng D. Sự việc mất chiếc lắc chị L có khiếu nại đến Công an xã T, tại văn bản Trả lời đơn số 11/CAX ngày 02/3/2022 của Công an xã T cũng xác định không có việc chị L bị mất 5 chỉ vàng 24 kara như nội dung “đơn thưa” của chị.
Xét thấy, ngoài lời khai của người làm chứng là ông Lý Công T thì chị L không có chứng cứ nào khác để chứng minh có sự việc mất chiếc lắc 5 chỉ vàng 24 kara như chị trình bày. Qua lấy lời khai chị L cũng xác định không yêu cầu Tòa án án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ gì khác ngoài chứng cứ, tài liệu mà chị đã cung cấp.
Qua lấy lời khai và tại phiên tòa hôm nay thì người làm chứng là ông Lý Công T cũng xác định không trực tiếp thấy vàng của chị L bị rơi mất mà chỉ khi chị L gọi lại cho chồng chị thông báo mất chiếc lắc thì ông mới biết.
Như vậy, qua các chứng cứ mà chị L cung cấp, chứng cứ mà Tòa án thu thập không có căn cứ xác định chị L có mất chiếc lắc vàng như chị trình bày. Theo quy định tại khoản 1 Điều 584 của Bộ luật Dân sự thì “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Như vậy, một trong những căn cứ để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là phải có “thiệt hại” xảy ra. Trong trường hợp này chị L không cung cấp được chứng cứ, tài liệu để chứng minh được có thiệt hại xảy ra theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó chưa đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của chị L là không có căn cứ để HĐXX chấp nhận; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Hồng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là: (5 chỉ vàng 24 kara x 6.300.000 đồng/chỉ) x 5% = 1.575.000 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 625.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008363, ngày 16/5/2022 của Chi cục Thi hành án huyện Giồng Riềng, nên chị L phải nộp thêm số tiền án phí là 950.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 264 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 584 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Hồng L về việc yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn Thế A bồi thường thiệt chiếc lắc 05 chỉ vàng 24 kara.
2. Về án phí: Buộc chị Phạm Hồng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là 1.575.000 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 625.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008363, ngày 16/5/2022 của Chi cục Thi hành án huyện Giồng Riềng, nên chị L phải nộp thêm số tiền án phí là 950.000 đồng.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/02/2024).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Giồng Riềng; - Chi cục THADS huyện Giồng Riềng; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Luân |