vanban.org

Bản án 34/2023/KDTM-PT — Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận kháng cáo của các bị đơn gồm: bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong, Công ty Cổ phần TPP Land (do ông Huỳnh Tấn Gia đại diện công ty kháng cáo). Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty — án kinh doanh thương mại — "Cty Thành Thành Công kiện Cty TPP Land"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 34/2023/KDTM-PT
Ngày: 05/5/2023
V/v “Tranh chấp HĐ góp vốn đầu tư”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Thúy Hồng

Ông Lê Hoàng Tấn

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Thiện, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 59/2022/TLPT-KDTM ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp HĐ góp vốn đầu tư”.

1/ Nguyên đơn: Công ty Cổ phần giáo dục Thành Thành Công; Địa chỉ: số 8 đường Phan Đình Giót, Phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thuận; Địa chỉ: Căn C1.03.04, Chung cư 4S, đường số 30, Phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền số 10 ngày 28/02/2022) (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Ngô Thị Thúy Thủy thuộc Công ty Luật TNHH Tindona Việt Nam - Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Tầng 9, Tòa nhà Viễn Đông, số 14 Phan Tôn, phường Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

2/ Bị đơn:

2.1/ Công ty Cổ phần TPP Land; Địa chỉ: 34 - 36 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, Thành phổ Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2.2/ Ông Phan Hồng Phong; Địa chỉ: số 80 đường Nguyễn Biểu, Phường 1, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2.3/ Bà Phan Thị Bích Trâm; Địa chỉ: 20-22 đường số 1, phường An Khánh, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Công ty CP TPP Land, ông Phong và bà Trâm cùng ủy quyền cho: Bà Đặng Thị Lệ Mẫn (có mặt), bà Lê Thị Ánh Hương (vắng mặt); (Giấy ủy quyền ngày 20/12/2021)

Các bị đơn và người đại diện ủy quyền cùng địa chỉ liên lạc: 20-22 đường số 1, phường An Khánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1/ Công ty TNHH MTV phát triển giáo dục 590; Địa chỉ: 590 đường Cách Mạng Tháng 8, Phường 11, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)

3.2/ Công tỵ TNHH MTV giáo dục Thành Thành Công - Tây Ninh; Địa chỉ: Số 8 đường Phan Đình Giót, phường 2, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)

3.3/ Công ty Cổ phần giáo dục Hưng Hưng Thịnh; Địa chỉ: Chánh Môn A, khu phố 1, phường 4, Thành phố Tây Ninh. (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản khác, nguyên đơn là công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công, người đại diện ủy quyền bà Trần Thị Thuận trình bày:

Ngày 12/5/2018, công ty CP Giáo dục Thành Thành Công (sau đây gọi tắt là Công ty Thành Thành Công) và Công ty cổ phần TPP Land, bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong (sau đây gọi tắt là nhóm cổ đông chuyển nhượng) - Các cổ đông sáng lập, sở hữu 100% vốn điều lệ công ty Cổ phần Giáo dục Hưng Hưng Thịnh (sau đây gọi tắt là công ty Hưng Hưng Thịnh) đã ký Hợp đồng nguyên tắc góp vốn đầu tư số 27/HĐNT. Hợp đồng thỏa thuận các bên cam kết chuyển nhượng 100% cổ phần tại Công ty Hưng Hưng Thịnh cho công ty Thành Thành Công hoặc bên thứ ba do công ty Thành Thành Công chỉ định. Thực hiện hợp đồng này, các bên ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Ngày 26/3/2020, Cục thuế tỉnh Tây Ninh có Thông báo số 1874/TB-CT về việc nộp tiền thuê đất bổ sung, yêu cầu công ty Hưng Hưng Thịnh phải nộp tiền sử dụng đất do xin gia hạn tiến độ sử dụng đất với số tiền là 999.858.425đ (chín trăm chín mươi chín triệu tám trăm năm mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng). Công ty Thành Thành Công cho rằng các bên đã thỏa thuận tại đoạn i, điểm m, khoản 2, Điều 4 Hợp đồng nguyên tắc số 27 về việc Nhóm cổ đông chuyển nhượng có nghĩa vụ đối với tất cả các khoản thuế, nghĩa vụ tài chính đối với cơ quan nhà nước hoặc nghĩa vụ trả nợ với bên thứ ba trước khỉ thực hiện việc chuyển nhượng. Đồng thời khoản tiền thuê đất bổ sung nêu trên là nghĩa vụ phát sinh từ thời điểm ngày 16/4/2018, là ngày Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đồng ý gia hạn tiến độ thực hiện dự án của công ty Hưng Hưng Thịnh tại Quyết định số 1038/QĐ-UBND. Do đó, công ty Thành Thành Công yêu cầu Nhóm cổ đông chuyển nhượng có nghĩa vụ đóng số tiền sử dụng đất nêu trên theo thông báo của Cục thuế tỉnh Tây Ninh. Sau nhiều lần trao đổi với nhóm cổ đông không thành, công ty Thành Thành Công khởi kiện yêu cầu Nhóm cổ đông là các Đồng bị đơn trong vụ án hoàn trả số tiền mà công ty Thành Thành Công đã thanh toán thay cho Nhóm cổ đông thực hiện nộp tiền thuê đất theo yêu cầu của Cục Thuế tỉnh Tây Ninh, số tiền cụ thể:

+ Tiền gốc: 999.858.425đ (chín trăm chín mươi chín triệu tám trăm năm mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng).

+ Tiền chậm nộp thuế: 49.906.928đ (bốn mươi chín triệu chín trăm lẻ sáu nghìn chín trăm hai mươi tám đồng).

+ Tiền lãi: 171.772.861đ (một trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm sáu mươi mốt đồng) tính theo lãi suất 10%/năm từ ngày công ty Thành Thành Công thực hiện việc nộp tiền cho Cục thuế tỉnh Tây Ninh tạm tính đến ngày 31/5/2022.

Tổng cộng 1.221.538.214đ (một tỷ hai trăm hai mươi mốt triệu năm trăm ba mươi tám nghìn hai trăm mười bốn đồng).

Theo bản tự khai và các biên bản khác, các đồng bị đơn là công ty Cổ phần TPP Land, ông Phan Hồng Phong và bà Phan Thị Bích Trâm có cùng đại diện ủy quyền trình bày:

Các Đồng bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Các Đồng bị đơn xác nhận các bên có ký kết Hợp đồng nguyên tắc góp vốn đầu tư số 27 ngày 12/5/2018. Tuy nhiên, các Bị đơn chỉ chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ của Công ty Hưng Hưng Thịnh nếu khoản nợ này phát sinh trước ngày ký hợp đồng. Điều này được thỏa thuận rõ trong đoạn i, điểm m, khoản 2, Điều 4 của Hợp đồng số 27 mà Nguyên đơn viện dẫn ở trên. Tuy nhiên, tiền thuê đất theo Thông báo số 1874/TB-CT ngày 26/3/2020 của Cục thuế tỉnh Tây Ninh không phải là khoản nợ của công ty Hưng Hưng Thịnh theo cách hiểu từ nợ quy định tại khoản 17, Điều 3 Luật Quản lý thuế năm 2019. Khoản tiền thuế theo thông báo 1874 chỉ là nghĩa vụ phát sinh tại thời điểm Cục thuế ban hành thông báo này và chỉ trở thành khoản nợ sau 30 ngày theo nội dung thông báo: “thời hạn nộp tiền thuê đất: chậm nhất 30 ngày kể từ ngày ký thông báo ”. Như vậy, nghĩa vụ nộp thuế trở thành khoản nợ thuế của công ty Hưng Hưng Thịnh vào thời điểm ngày 27/4/2020. Do đó, căn cứ Hợp đồng 27, các quy định pháp luật về thuế, công ty Hưng Hưng Thịnh không nợ thuế tại thời điểm các bên ký Hợp đồng 27 nên yêu cầu của Nguyên đơn buộc Đồng bị đơn thanh toán số tiền thuế và phạt chậm thanh toán là không có căn cứ. Bị đơn đã hoàn tất việc chuyển nhượng 100% cổ phần cho công ty Thành Thành Công và các bên do công ty Thành Thành Công chỉ định nên Bị đơn không còn bất kỳ quyền, nghĩa vụ nào đối với công ty Hưng Hưng Thịnh.

Ngoài ra, các Đồng bị đơn cũng cho rằng Nguyên đơn không có quyền khởi kiện trong vụ án này theo quy định tại Điều 186 và 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. Cụ thể: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các Bị đơn liên đới chịu trách nhiệm thanh toán cho công ty Hưng Hưng Thịnh số tiền thuê đất, tiền chậm nộp mà công ty Giáo dục Hưng Hưng Thịnh đã nộp cho cơ quan thuế. Tuy nhiên, nguyên đơn không phải là đại diện pháp luật hay đại diện theo ủy quyền của công ty Hưng Hưng Thịnh và cũng không thuộc trường hợp có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần Hưng Hưng Thịnh trình bày:

Trước ngày 12/5/2018, công ty CP Giáo dục Hưng Hưng Thịnh (sau đây gọi tắt là công ty Hưng Hưng Thịnh) có 3 cổ đông gồm Công ty CP TPP Land sở hữu 300.000 cổ phần (chiếm 10% vốn điều lệ), bà Phan Thị Bích Trâm sở hữu 2.430.000 cổ phần (chiếm 81% vốn điều lệ) và ông Phan Hồng Phong sở hữu 270.000 cổ phần (chiếm 9% vốn điều lệ).

Ngày 12/5/2018, nhóm cổ đông gồm TPP Land, bà Trâm và ông Phong đã ký hợp đồng nguyên tắc góp vốn đầu tư số 27/HĐNT với công ty Thành Thành Công. Hợp đồng thỏa thuận Nhóm cổ đông chuyển nhượng 100% cổ phần cho công ty Thành Thành Công hoặc bên thứ 3 được công ty Thành Thành Công chỉ định. Cùng ngày, Nhóm cổ đông chuyển nhượng đã chuyển nhượng 100% cổ phần cho công ty Thành Thành Công và các đơn vị do công ty Thành Thành Công chỉ định thông qua các Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần số 24, 25, 26 và 27. Công ty Thành Thành Công đã hoàn tất nghĩa vụ thanh toán tiền và được xác nhận tư cách cổ đông từ ngày 12/5/2018.

Mặc dù công ty Thành Thành Công đã hoàn tất nghĩa vụ thanh toán tiền nhưng nghĩa vụ của bên chuyển nhượng đã không thực hiện đầy đủ theo thỏa thuận tại đoạn i điểm m khoản 2 Điều 4 Hợp đồng nguyên tắc góp vốn đầu tư số 27.

Ngày 20/5/2020, công ty Hưng Hưng Thịnh nhận được Thông báo số 1874/TB-CT của Cục thuế tỉnh Tây Ninh yêu cầu công ty Hưng Hưng Thịnh phải nộp tiền thuê đất bổ sung do xin gia hạn tiến độ sử dụng đất với số tiền là 999.858.425 đồng.

Công ty Hưng Hưng Thịnh cho rằng Thông báo số 1874 phát sinh từ việc các bị đơn xin gia hạn tiến độ sử dụng đất, tiến độ dự án và được Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh cho phép theo Quyết định số 1038/QĐ-UBND ngày 16/4/2018 nên căn cứ thỏa thuận tại Hợp đồng 27, tiền thuê đất nộp bổ sung này là “khoản nợ” mà các Bị đơn cam kết. Do đó, công ty Hưng Hưng Thịnh đã thông báo cho công ty Thành Thành Công để yêu cầu công ty TPP Land và bà Trâm, ông Phong thực hiện đúng cam kết, chịu trách nhiệm thanh toán khoản tiền thuê đất nộp bổ sung nhưng bị từ chối. Do đó, công ty Hưng Hưng Thịnh hoàn toàn đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của công ty Thành Thành Công và không bổ sung thêm. Công ty Hưng Hưng Thịnh đề nghị được giải quyết và xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công ty TNHH MTV phát triển giáo dục 590 trình bày:

Sau khi công ty Thành Thành Công và nhóm cổ đông ký hợp đồng nguyên tắc số 27, Công ty Thành Thành Công đã chỉ định Công ty TNHH MTV phát triển giáo dục 590 (sau đây gọi tắt là công ty 590) đứng tên đại diện ký hợp đồng để nhận chuyển nhượng 270.000 cổ phần từ công ty Hưng Hưng Thịnh do ông Phong sở hữu. Việc chỉ định đứng tên được công ty Thành Thành Công và công ty 590, công ty Thành Thành Công - Tây Ninh ký kết tại Văn bản Thỏa Thuận ngày 12/5/2018. Công ty 590 chỉ đại diện đứng tên cổ phần thay cho công ty Thành Thành Công, công ty 590 hoàn toàn đồng ý với các yêu cầu khởi kiện và các ý kiến trình bày của công ty Thành Thành Công.

Công ty 590 đề nghị được giải quyết và xét xử vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công ty TNHH MTV giáo dục Thành Thành Công - Tây Ninh trình bày:

Sau khi công ty Thành Thành Công và nhóm cổ đông ký hợp đồng nguyên tắc số 27, Công ty Thành Thành Công đã chỉ định Công ty TNHH MTV Giáo dục Thành Thành Công - Tây Ninh (sau đây gọi tắt là công ty Thành Công Tây Ninh) đứng tên đại diện ký hợp đồng để nhận chuyển nhượng 300.000 cổ phần do công ty TPP Land sở hữu và 2.130.000 cổ phần do bà Phan Thị Bích Trâm sở hữu. Giao dịch đã hoàn tất và công ty Thành Công Tây Ninh đã được xác nhận tư cách cổ đông kể từ ngày 12/5/2018. Việc chỉ định đứng tên được Công ty Thành Thành Công, công ty 590 và công ty Thành Công Tây Ninh ký kết tại văn bản thỏa thuận ngày 12/5/2018. Công ty Thành Công Tây Ninh chỉ đại diện đứng tên cổ phần thay cho công ty Thành Thành Công. Công ty Thành Công Tây Ninh hoàn toàn đồng ý với các yêu cầu khởi kiện và các ý kiến trình bày của Công ty Thành Thành Công.

Công ty Thành Công Tây Ninh đề nghị được giải quyết và xét xử vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 949/2022/KDTM-ST ngày 29/6/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

- Căn cứ Khoản 3 Điều 30, điểm a Khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 297, 306 Luật Thương mại;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi bổ sung năm 2014);

Xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần giáo dục Thành Thành Công, buộc Công ty cổ phần TPP Land, bà Phan Thị Bích Trâm và ông Phan Hồng Phong thanh toán cho Công ty cổ phần giáo dục Thành Thành Công số tiền như sau:

+ Công ty TPP Land có trách nhiệm thanh toán 116.340.766 (một trăm mười sáu triệu ba trăm bốn mươi nghìn bảy trăm sáu mươi sáu) đồng;

+ Bà Phan Thị Bích Trâm có trách nhiệm thanh toán 942.360.209 (chín trăm bốn mươi hai triệu ba trăm sáu mươi nghìn hai trăm lẻ chín) đồng;

+ Ông Phan Hồng Phong có trách nhiệm thanh toán 104.706.689 (một trăm lẻ bốn triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn sáu trăm tám mươi chín) đồng.

Thực hiện một lần ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.

Công ty TPP Land, bà Trâm và ông Phong còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tính từ ngày 31/5/2022.

2/ Về án phí: Các đồng bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Cụ thể:

+ Công ty Cổ phần TPP Land phải chịu án phí là 5.817.038 đồng (năm triệu tám trăm mười bảy nghìn không trăm ba mươi tám đồng);

+ Bà Phan Thị Bích Trâm phải chịu án phí là 40.270.806 đồng (Bốn mươi triệu hai trăm bảy mươi nghìn tám trăm linh sáu đồng);

+ Ông Phan Hồng Phong phải chịu án phí là 5.235.334 (năm triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn ba trăm ba mươi bốn) đồng.

+ Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công phải chịu án phí 3.000.000 (ba triệu) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.836.000 (hai mươi mốt triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2019/0093659 ngày 05/02/2021 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn lại cho Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công 18.836.000 (mười tám triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

- Sau khi xét xử sơ thẩm thì các bị đơn như: Công ty Cổ phần TPP Land (do ông Huỳnh Tấn Gia Thạnh đại diện), Bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong kháng cáo không đồng ý việc án sơ thẩm xử buộc công ty Cổ phần TPP Land (công ty TPP Land) phải thanh toán lại cho Công ty Cổ phần giáo dục Thành Thành Công (công ty Thành Thành Công) số tiền thuê đất và lãi chậm trả bằng 116.340.766 đồng; Bà Phan Thị Bích Trâm phải trả số tiền thuê đất và lãi chậm trả bằng 942.360.209 đồng; Ông Phan Hồng Phong phải trả số tiền thuê đất và lãi chậm trả bằng 104.706.689 đồng. Lý do là Công ty Thành Thành Công không có quyền khởi kiện, theo hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 12/5/2018 xác định bà Trâm, ông Phong và công ty TPP Land không còn nợ khoản tiền thuế nào đối với nhà nước. Việc công ty Thành Thành Công nộp tiền thuê đất theo thông báo số 1784/TB-CT ngày 26/3/2020, thông báo số 7251/TB-CT ngày 19/10/2020 và thông báo số 8522/TB-CT ngày 16/11/2020 của Cục thuế tỉnh Tây Ninh, công ty Hưng Hưng Thịnh phải nộp với số tiền thuê đất bằng 999.858.425 đồng, lãi chậm nộp với số tiền 49.906.928 đồng là do công ty Thành Thành Công (công ty kế thừa nghĩa vụ của công ty Hưng Hưng Thịnh) tự nguyện nộp; nên bà Trâm, ông Phong và công ty TPP Land không đồng ý trả lại cho công ty Thành Thành Công như án sơ thẩm xử, và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng, nên đề nghị hủy án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện cho các bị đơn xin thay đổi kháng cáo, phía bị đơn đồng ý trả lại khoản tiền thuê đất và tiền phạt chậm nộp tính đến ngày 12/5/2018 (ngày chuyển nhượng dự án).

- Sau khi xét xử sơ thẩm, Công ty Thành Thành Công có đơn kháng cáo cho rằng án sơ thẩm xử không chấp nhận theo toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn buộc các bị đơn phải hoàn trả khoản tiền chậm nộp thuế bằng 49.906.928 đồng là không đúng. Nên yêu cầu các bị đơn phải hoàn trả cho công ty Thành Thành Công khoản tiền 49.906.928 đồng ngoài khoản tiền mà án sơ thẩm đã xử. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bà Trần Thị Thuận đại diện cho công ty Thành Thành Công vẫn giữ theo yêu cầu kháng cáo như trên.

- Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị cho rằng án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền phạt chậm nộp thuế 49.906.928 đồng mà công ty Thành Thành Công nộp tiền phạt thay cho công ty Hưng Hưng Thịnh là không đúng, nên kháng nghị đề nghị sửa bản án sơ thẩm, buộc các bị đơn phải chịu khoản tiền trên theo tỷ lệ vốn góp đã chuyển nhượng. Tại tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị phúc xử: chấp nhận theo kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của công ty Thành Thành Công, buộc các bị đơn phải chịu khoản tiền 49.906.928 đồng theo tỷ lệ vốn góp đã chuyển nhượng, các phần còn lại của bản án sơ thẩm thì giữ nguyên. Không chấp nhận đối với kháng cáo của các bị đơn là Công ty Cổ phần TPP Land, Bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong.

Đại diện cho các bị đơn thì không thừa nhận có sự thỏa thuận này mà cho rằng trách nhiệm là của bên nhận chuyển nhượng. Phía các bị đơn không còn trách nhiệm sau khi chuyển nhượng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đơn kháng cáo của các bị đơn Công ty Cổ phần TPP Land (do ông Huỳnh Tấn Gia Thạnh đại diện), Bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong, và kháng cáo của Công ty Cổ phần giáo dục Thành Thành Công (nguyên đơn) cũng như kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được làm và nộp trong thời hạn luật định nên đây là kháng cáo, kháng nghị hợp lệ.

Xét về nội dung vụ án thì thấy:

- Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3900974473 do phòng đăng ký kinh doanh thuộc sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh Tây Ninh cấp cho Công ty Cổ phần giáo dục Hưng Hưng Thịnh ngày 06/7/2011 và thay đổi lần 2 ngày 16/11/2016 thì công ty TPP Land là cổ đông sở hữu 300.000 cổ phần chiếm tỷ lệ vốn 10% vốn điều lệ; Bà Phan Thị Bích Trâm là cổ đông sở hữu 2.430.000 cổ phần chiếm 81% vốn điều lệ; Ông Phan Hồng Phong là cổ đông sở hữu 270.000 cổ phần chiếm 9% vốn điều lệ công ty.

Ngày 12/5/2018, giữa công ty TPP Land, bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong (là bên A) với công ty Thành Thành Công (là bên B), ký hợp đồng nguyên tắc góp vốn đầu tư số 27/HĐNT, theo hợp đồng này thì công ty TPP Land, bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong (Bên A) thỏa thuận chuyển nhượng 100% vốn góp của mình tại công ty Hưng Hưng Thịnh do Bên A đứng tên thành lập và cùng ngày 12/5/2018 lập ra 03 hợp đồng chuyển nhượng cổ phần vốn góp như: Hợp đồng số 25/HĐCNCP của công ty TPP Land chuyển nhượng 300.000 cổ phần tại công ty Hưng Hưng Thịnh cho công ty Thành Thành Công-Tây Ninh; Hợp đồng số 26/HĐCNCP của bà Phan Thị Bích Trâm chuyển nhượng 2.130.000 cổ phần tại công ty Hưng Hưng Thịnh cho Công ty Thành Thành Công-Tây Ninh; Hợp đồng số 27/HĐCNCP của ông Phan Hồng Phong chuyển nhượng 270.000 cổ phần tại công ty Hưng Hưng Thịnh cho công ty TNHH MTV phát triển giáo dục 590 (Công ty 590).

Các bên thừa nhận công ty Thành Thành Công-Tây Ninh đã thực hiện xong nghĩa vụ đối với các bị đơn và đăng ký cập nhật tại cơ quan có thẩm quyền về việc thay đổi thông tin của công ty Hưng Hưng Thịnh. Công ty Thành Thành Công đã được Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3601478519 ngày 25/12/2018. Hiện nay thì Công ty Thành Thành Công, Công ty Thành Thành Công Tây Ninh và Công ty 590 đã sở hữu 100% cổ phần của công ty Hưng Hưng Thịnh. Tại tòa, các bị đơn xác định công ty Hưng Hưng Thịnh được thành lập dựa trên vốn điều lệ của 03 thành viên là công ty TPP Land, bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong, đã thỏa thuận chuyển nhượng 100% cổ phần lại cho công ty Thành Thành Công như trên.

Theo văn bản thỏa thuận ký ngày 12/5/2018 giữa Bên A là công ty Thành Thành Công với Bên B là công ty Thành Thành Công – Tây Ninh và Bên C là công ty 590, cùng với xác nhận ngày 24/5/2022 của công ty Thành Thành Công-Tây Ninh cũng như của công ty 590, chỉ đại diện phần vốn góp của công ty Thành Thành Công trong công ty Hưng Hưng Thịnh, và công ty Thành Thành Công mới là chủ sở hữu 100% cổ phần tại công ty Hưng Hưng Thịnh từ ngày 12/5/2018.

HĐXX xác định ngày 12/5/2018 đã chuyển nhượng cổ phần từ công ty Hưng Hưng Thịnh sang cho Công ty Thành Thành Công, nên trách nhiệm chịu thuế về thuế đất do công ty Thành Thành Công kế thừa phải nộp thuế đất từ ngày 13/5/2018.

Theo thông báo số 1874/TB-CT ngày 26/3/2020 của Cục thuế tỉnh Tây Ninh cũng như văn bản giải thích số 571/CTTN-HKDCN ngày 20/02/2023 của Cục thuế tỉnh Tây Ninh thì Cục thuế tỉnh Tây Ninh tính thuế thuê đất đối với công ty Hưng Hưng Thịnh từ tháng 09/2017 đến tháng 09/2019 bằng 999.858.425 đồng và tiền phạt chậm nộp đến ngày 30/9/2020 bằng 47.219.085 đồng, tổng cộng bằng 1.047.077.510 đồng.

Án sơ thẩm buộc cả 3 thành viên thành lập công ty Hưng Hưng Thịnh (đã chuyển nhượng toàn bộ cổ phần cho công ty Thành Thành Công) phải chịu toàn bộ số tiền thuế 999.858.425 đồng và khoản tiền lãi của số tiền 999.858.425 đồng bằng 163.549.241 đồng, không chấp nhận theo yêu cầu của công ty Thành Thành Công đòi các bị đơn phải trả lại khoản tiền phạt 49.906.928 đồng và chênh lệch số tiền lãi tính đến ngày 30/5/2022 bằng 8.223.620 đồng.

Như trên thể hiện thì ngày 12/5/2018 công ty TPP Land, bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong chuyển nhượng toàn bộ cổ phần (thực chất là chuyển nhượng dự án) cho công ty Thành Thành Công. Như vậy, công ty TPP Land, bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong chỉ phải chịu trách nhiệm trả tiền thuê đất cho đến ngày 12/5/2018. Bắt đầu từ ngày 13/5/2018 thì công ty Thành Thành Công chịu trách nhiệm trả tiền thuê đất là hợp lý.

Án sơ thẩm xử như trên là xâm phạm đến quyền lợi của các bị đơn gồm công ty TPP Land, bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong, nên cần sửa lại một phần bản án sơ thẩm như sau:

- Tiền thuê đất từ tháng 09/2017 đến ngày 12/5/2018 thì công ty TPP Land, bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong phải nộp theo tỷ lệ phần vồn góp của mình. Cụ thể, (thời gian từ tháng 09/2017 đến tháng 09/2019 tiền thuê đất được tính: 999.858.425đ : 25 tháng = 39.994.337đ/tháng.

+ Thời gian từ tháng 09/2017 đến ngày 12/5/2018 là 08 tháng 12 ngày bằng 335.952.430 đồng.

+ Chia theo tỷ lệ vốn góp thì Công ty TPP Lan phải chịu 10% x 335.952.430đ = 33.595.243 đồng; Bà Phan Thị Bích Trâm phải chịu 81% x 335.952.430đ = 272.121.468 đồng; Ông Phan Hồng Phong phải chịu 9% x 335.952.430đ = 30.235.717 đồng.

- Về phần tiền phạt chậm thanh toán 49.906.928 đồng các bị đơn cũng phải chịu nộp khoản tiền tương ứng với tỷ lệ tiền thuế phải nộp: số tiền 335.952.430đ trên tổng số tiền thuế 999.858.425đ thì bằng 33,5%. Do đó các bị đơn phải nộp số tiền phạt chậm thanh toán bằng 33,5% x 49.906.928 đồng = 16.718.820 đồng. Chia theo tỷ lệ vốn góp thì Công ty TPP Lan phải chịu 10% x 16.718.820đ = 10671.882đồng; Bà Phan Thị Bích Trâm phải chịu 81% x 16.718.820đ = 13.542.244 đồng; Ông Phan Hồng Phong phải chịu 9% x 16.718.820đ = 1.504.693 đồng.

- Về phần tiền lãi trên số tiền 335.952.430 đồng (là số tiền mà công ty Thành Thành Công đã trả thay cho các bị đơn) tính từ ngày 08/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là 599 ngày theo mức lãi suất quy ra ngày là 0,027%/ngày: 335.952.430đ x 0,027%/ngày x 599 ngày = 54.333.586 đồng. Chia theo tỷ lệ vốn góp thì công ty TPP Land phải chịu 5.433.358 đồng; Bà Trâm phải chịu 44.010.204 đồng; Ông Phong phải chịu 4.890.022 đồng.

Tổng cộng các khoản tiền như nêu trên, các bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền bằng 410.181.635 đồng, cụ thể như sau:

+ Công ty TPP Land phải hoàn trả tổng cộng 40.700.711 đồng.

+ Bà Phan Thị Bích Trâm phải hoàn trả tổng cộng 332.850.492 đồng.

+ Ông Phan Hồng Phong phải hoàn trả tổng cộng 36.630.432 đồng.

- Về phần số tiền chênh lệch còn lại gồm: tiền thuê đất 663.905.995 đồng; tiền phạt chậm nộp thuế 33.188.108 đồng; và phần yêu cầu tiền lãi không được chấp nhận 117.439.275 đồng thì công ty Thành Thành Công phải chịu.

Do sửa án sơ thẩm, nên phần án phí KDTM sơ thẩm được sửa lại như sau:

+ Công ty TPP Land phải hoàn trả tổng cộng 40.700.711 đồng, nên phải nộp án phí sơ thẩm là 3.000.000 đồng.

+ Bà Phan Thị Bích Trâm phải hoàn trả tổng cộng 332.850.492 đồng, nên phải nộp án phí sơ thẩm là 16.642.524 đồng.

+ Ông Phan Hồng Phong phải hoàn trả tổng cộng 36.630.432 đồng, nên phải nộp án phí sơ thẩm là 3.000.000 đồng.

+ Công ty Thành Thành Công không được chấp nhận phần yêu cầu với tổng số tiền là 814.533.378 đồng, nên phải nộp án phí sơ thẩm là 36.436.000 đồng.

Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Chấp nhận kháng cáo của các bị đơn gồm: bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong, Công ty Cổ phần TPP Land (do ông Huỳnh Tấn Gia đại diện công ty kháng cáo).

- Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong và Công ty Cổ phần TPP Land phải chịu một phần tiền phạt trong số tiền 49.906.928 đồng, theo tỷ lệ vốn góp của từng người.

- Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công, về việc buộc các bị đơn gồm: bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong, Công ty Cổ phần TPP Land phải chịu một phần tiền phạt trong số tiền 49.906.928 đồng bị phạt do chậm nộp thuế.

Sửa bản án sơ thẩm.

[2] Áp dụng Khoản 3 Điều 30, điểm a Khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 297, 306 Luật Thương mại; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; và Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công. Buộc Công ty Cổ phần TPP Land, bà Phan Thị Bích Trâm, ông Phan Hồng Phong phải thanh toán lại cho Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công các khoản tiền như sau:

+ Công ty TPP Land phải hoàn trả cho Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công tổng cộng 40.700.711 đồng.

+ Bà Phan Thị Bích Trâm phải hoàn trả cho Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công tổng cộng 332.850.492 đồng.

+ Ông Phan Hồng Phong phải hoàn trả cho Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công tổng cộng 36.630.432 đồng.

- Không chấp nhận phần yêu cầu của Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công đòi các bị đơn phải trả lại các khoản tiền như: tiền thuê đất mà Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công đã nộp (không được chấp nhận là 663.905.995 đồng); Tiền phạt chậm nộp thuế (không được chấp nhận là 33.188.108 đồng); Tiền lãi (không được chấp nhận là 117.439.275 đồng).

[3] Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:

+ Công ty Cổ phần TPP Land phải nộp án phí sơ thẩm là 3.000.000 đồng.

+ Bà Phan Thị Bích Trâm phải nộp án phí sơ thẩm là 16.642.524 đồng.

+ Ông Phan Hồng Phong phải nộp án phí sơ thẩm là 3.000.000 đồng.

+ Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công phải nộp án phí sơ thẩm là 36.436.000 đồng.

(Các đương sự phải nộp án phí sơ thẩm như trên, chứ không phải nộp như án sơ thẩm đã xử)

[4] Các quyết định còn lại của bản án sơ thẩm xử không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Công ty Cổ phần TPP Land; Bà Phan Thị Bích Trâm; Ông Phan Hồng Phong; Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công không phải nộp án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

+ Công ty Cổ phần Giáo dục Thành Thành Công đã nộp số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 21.836.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0093695 ngày 05/02/2021; và số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002635 ngày 13/7/2022 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Các số tiền này được giữ lại để khấu trừ phần án phí sơ thẩm phải nộp.

+ Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng do Công ty Cổ phần TPP Land đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002629 ngày 13/7/2022 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh được giữ lại để khấu trừ phần án phí sơ thẩm phải nộp.

+ Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng do bà Phan Thị Bích Trâm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002627 ngày 13/7/2022 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh được giữ lại để khấu trừ phần án phí sơ thẩm phải nộp.

+ Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng do ông Phan Hồng Phong đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002628 ngày 13/7/2022 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh được giữ lại để khấu trừ phần án phí sơ thẩm phải nộp.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/5/2023.

Cỡ chữ