vanban.org

Bản án 34/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 07/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 01 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 11 tháng 11 năm 2022.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 tháng 15 ngày; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 18 tháng 11 năm 2022 đến ngày 02 tháng 3 năm 2023, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc đã trao trả cho bị hại… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 01 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 11 tháng 11 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật hình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 34/2023/HSST
Ngày 07 tháng 4 năm 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/. Ông Dƣơng Tấn Đấu

2/. Bà Nguyễn Tƣờng Diễm L Giang.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Chung, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Hữu Nghị, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST- HS, ngày 21 tháng 3 năm 2023 và Thông báo dời phiên toà số 01/2023/TB-TA ngày 03/4/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn B , sinh ngày 01 tháng 01 năm 1985; tại GR – BL; nơi thường trú: Ấp PT, xã PL, huyện PL, tỉnh BL; nơi ở hiện tại: Kp 6, phường AT, thành phố PQ, tỉnh KG ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông: Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị S; Vợ: Nguyễn Thị Mỹ D; tiền án: Không; tiền sự: Chưa;

Nhân thân: Ngày 30/8/2007, bị Toà án nhân dân huyện PL, tỉnh BL xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 36/2007/HS-ST. Ngày 30/4/2008, chấp hành xong bản án được xoá án tích. Ngày 21/10/2008, bị Toà án nhân dân huyện PL, tỉnh BL xử phạt 01năm tù về tôi trộm cắp tài sản, Nguyễn Văn B kháng cáo. Ngày 25/9/2009, bị Toà án tỉnh BL xử phạt 01 tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 64.HS-PT. Ngày 22/10/2009, chấp hành xong bản án được xoá án tích. Ngày 11/11/2022, bị tạm giữ về hành vi trộm cắp tài sản bị bắt quả tạng. Ngày 17/11/2022 bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Phú Quốc.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn T , sinh ngày 03 tháng 9 năm 1998; tại tỉnh AG; nơi thường trú: Khóm VP1, phường NS hành phố CĐ, tỉnh AG; nơi ở hiện tại: Kp 6, phường AT, thành phố PQ, tỉnh KG ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông: Nguyễn Văn H và bà Đoàn Thị C; Chưa có vợ:; tiền án: Không; tiền sự: Chưa. Ngày 11/11/2022, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 18/11/2022, đầu thú bị tạm giữ. Ngày 21/11/2022 bị tạm giam. Ngày 02/3/2023 tạm tha. Các bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B : Ông Nguyễn Trƣờng T – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý – Thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh KG, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T : Ông Nguyễn Xuân T – Luật sư Thuộc Công ty luật TNHH TTCL , đoàn luật sư thành phố HN , có đơn xin vắng mặt.

- Người bị hại: Ông Đỗ Ngọc N , sinh năm 1998; nơi cư trú: Ấp GD xã BT, thành phố PQ, tinh KG ; địa chỉ thường trú: Khóm ĐT8, phường MP thành phố LX,tỉnh AG, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 10/11/2022, Nguyễn Văn B , Nguyễn Văn T và một người tên X (chưa rõ nhân thân), tổ chức uống bia tại quán ốc thuộc ấp 4, xã CC, thành phố PQ, tỉnh KG. Trong lúc uống bia, X rủ B và T đến các công trình tìm tài sản để trộm, tất cả đồng ý.

Khoảng 02 giờ 5 phút ngày 11/11/2022, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 67G1-046.03 mượn của Nguyễn Minh Th chở B , X điều khiển xe mô tô chạy được một đoạn thì chở theo người phụ nữ tên L (chưa rõ nhân thân) đến công trình xây dựng M Holtel tại khu G thuộc ấp GD,xã GD,thành phố PQ . T , L đứng bên ngoài cảnh giới, B X mở cửa hàng rào đi đến nhà kho công trình lấy trộm tài sản của anh Dỗ Ngọc N gồm: 01 máy cắt gỗ cầm tay màu xanh, nhãn hiệu Bosch, model GKS7000; 01máy đục bê tông nhãn hiệu Dong cheng, màu xám, mô model DZC 02-28; 01 máy bàn, màu xanh, nhãn hiệu Jasic, màu cam, model ARC-200E; 01 máy hàn nhãn hiệuWintech, màu đỏ, không rõ model; 01 máy cắt bàn nhãn hiệu Bosch, model GCO-200 và 01 máy cắt bàn nhãn hiệu Makita, màu xanh, model M2401. Khi B và X mang các tài sản vừa trộm được ra khu vực hàng rào thì bị anh Nguyễn C và anh Nguyễn T Ngoan là nhân viên bảo vệ của G đang tuần tra phát hiện bắt giữ Nguyễn Văn B cùng toàn bộ tang vật giao cho Công an xã Gành Dầu. Đối với T , L và X chạy thoát. Ngày 17/11/2022, Nguyễn Văn B bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công An thành phố Phú Quốc khởi tố tạm giam. Ngày 18/11/2022, Nguyễn Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc đầu thú. Ngày 21/11/2022, Nguyễn Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công An thành phố Phú Quốc khởi tố tạm giam để điều tra.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSSX, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 67G1- 0466.03, số khủng BY353482, số máy JC43E62994307, xe đã qua sử dụng; 01 máy cắt gỗ cầm tay màu xanh, nhãn hiệu Bosch, model GKS7000 đã qua sử dụng; 01máy đục bê tông nhãn hiệu Dong cheng, màu xám, mô model DZC 02-28 đã qua sử dụng; 01máy hàn nhãn hiệu Jasic, màu cam, model ARC-200E đã qua sử dụng; 01 máy hàn nhãn hiệu Wintech, màu đỏ, không rõ model đã qua sử dụng và 01 máy cắt bàn, màu xanh nhãn hiệu Bosch, model GCO-200 và 01 máy cắt bàn nhãn hiệu Makita, màu xanh, model M2401 chưa qua sử dụng.

Tại kết luận về giá trị tài sản trong tố tụng hình sự số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 16/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang kết luận: 01 máy cắt gỗ cầm tay màu xanh, nhãn hiệu Bosch, model GKS7000 đã qua sử dụng có giá trị 600.000 đồng; 01máy đục bê tông nhãn hiệu Dong cheng, màu xám, mô model DZC 02-28 đã qua sử dụn có giá trị 633.333 đồng; 01máy bàn nhãn hiệu Jasic, màu cam, model ARC-200E đã qua sử dụng có giá trị 766.667 đồng; 01 máy bàn nhãn hiệuWintech, màu đỏ, không rõ model đã qua sử dụng có giá trị 800.000 đồng; 01 máy cắt bàn màu xanh, nhãn hiệu Bosch, model GCO-200, mới mua chưa sử dụng có giá trị 3.133.333 đồng; 01 máy cắt bàn nhãn hiệu Makita, màu xanh, model M2401, mới mua chưa qua sử dụng có giá trị 2.866.667 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản: 8.800.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 31/CT-VKSPQ ngày 07/3/2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội trộm cắp tài sản, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các Nguyễn Văn B và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự . Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 tháng 15 ngày tù.

Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSSX, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 67G1- 0466.03, số khủngBY353482, số máy JC43E62994307, xe đã qua sử dụng; 01 máy cắt gỗ cầm tay màu xanh, nhãn hiệu Bosch, model GKS7000 đã qua sử dụng; 01máy đục bê tông nhãn hiệu Dong cheng, màu xám, mô model DZC 02-28 đã qua sử dụng; 01máy hàn nhãn hiệu Jasic, màu cam, model ARC-200E đã qua sử dụng; 01 máy hàn nhãn hiệu Wintech, màu đỏ, không rõ model đã qua sử dụng; 01 máy cắt bàn, màu xanh nhãn hiệu Bosch, model GCO-200 và 01 máy cắt bàn nhãn hiệu Makita, màu xanh, model M240 chưa qua sử dụng, tất cả đã trao trả cho chủ sở hữu đề nghị miễn xét.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra bị hại Đỗ Ngọc N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm đề nghị miễn xét.

- Đối với Nguyễn Văn Th khi cho Nguyễn Văn T mượn xe mô tô Th không biết T sử dụng đi trộm cắp tài sản nên không xử lý.

- Đối với tên X và L (chưa rõ nhận thân) và chiếc xe mô tô X sử dụng đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đang tiếp tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B : Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát đã truy tố về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn được chính quyền địa phương xét gia đình hộ nghèo; hiện tại bị cáo còn phải nuôi 02 con nhỏ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên phạt mức án cho bị cáo với mức án thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T vắng mặt, nhưng có bài bào chữa gửi cho Hội đồng xét xử: Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát đã truy tố về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự đầu thú; bị cáo có nhân thân tôt không tiền án, tiền sự; phạm tôi lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trong; hậu quả về thất thoát tài sản chưa xảy ra. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên phạt cho bị cáo với mức án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phiên toà người bị hại Đỗ Ngọc N có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do đã nhận lại đầu đủ tài sản mà các bị cáo đã trộm cắp và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B và Nguyễn Văn T không có ý kiến gì với bản kết luận định giá; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tỉnh Kiên Giang; lời nói sau cùng của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, Căn cứ vào các tài liệu, trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phú Quốc. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai hợp pháp, đúng pháp luật.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn B và Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; Kết luận định giá và phù hợp với lời khai của người bị hại. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Văn B và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố các bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, để lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực hành vi nhưng không lo làm ăn, muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm, giản đơn, trong đó người khởi xướng rủ các bị cáo đã bỏ trốn. Khi thực hiện hành vi bị cáo T ở bên ngoài cảnh giới còn bị cáo B là người thực hiện hành vi trộm cắp nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm trong vụ án. Tuy nhiên bị cáo B là người thực hiện hành vi trộm cắp tích cực, bị cáo có nhân thân xấu nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T .

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn B trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc đã trao trả toàn bộ tài sản mà các bị cáo đã trộm cắp được cho người bị hại là anh Đỗ Ngọc N theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 31/01/2023 (BL 78) là có căn cứ chấp nhận nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Đỗ Ngọc N xác nhận đã nhận lại đủ tài sản bị trộm cắp nên có đơn không yêu cầu bồi thường (BL 137).

Về án phí: Các bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và các luật sư là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình năm 2015. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 01 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 11 tháng 11 năm 2022.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình năm 2015. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 tháng 15 ngày; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 18 tháng 11 năm 2022 đến ngày 02 tháng 3 năm 2023, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

3. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc đã trao trả cho bị hại là anh Đỗ Ngọc N gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSSX, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 67G1- 0466.03, số khủngBY353482, số máy JC43E62994307, xe đã qua sử dụng; 01 máy cắt gỗ cầm tay màu xanh, nhãn hiệu Bosch, model GKS7000 đã qua sử dụng; 01máy đục bê tông nhãn hiệu Dong cheng, màu xám, mô model DZC 02-28 đã qua sử dụng; 01máy hàn nhãn hiệu Jasic, màu cam, model ARC-200E đã qua sử dụng; 01 máy hàn nhãn hiệu Wintech, màu đỏ, không rõ model đã qua sử dụng; 01 máy cắt bàn, màu xanh nhãn hiệu Bosch, model GCO-200 và 01 máy cắt bàn nhãn hiệu Makita, màu xanh, model M240 chưa qua sử dụng. Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 31/01/2023 (BL 78) nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Đỗ Ngọc N đã nhận đủ tài sản bị trộm cắp nên có đơn không yêu cầu bồi thường gì thêm Hội đồng xét xử miễn xét.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 22; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), nhưng bị cáo có đơn xin xét giảm tiền án phí (do gia đình bị cáo là hộ ngheo) nên miễn án phí cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) .

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại và người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ