vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 21/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày 09-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Trường

Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trịnh Văn Đ, sinh năm 1975 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: 90/5 đường N, phường T, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trịnh Văn Tình (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị T (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1982 (đã ly hôn); Con: Có 02 người con, lớn sinh năm 1999 và nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 12/11/1994, Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Tại bản án số 77/1994/HSST);

- Năm 2001, Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt và đóng án phí ngày 29/9/2006;

- Ngày 10/05/2006, Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 18 tháng tù

giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt và đóng án phí ngày 25/8/2011;

+ Ngày 27/7/2009, Ủy ban nhân dân thành phố Vũng Tàu ra Quyết định số 3644/QĐ-UBND đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục – Lao động Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong thời hạn 24 tháng;

- Ngày 06/03/2013, Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 09 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 17/04/2019 và đã đóng án phí vào ngày 08/5/2013.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (Có mặt).

Bị hại: Anh Vũ Đức Th, sinh năm 1975; Địa chỉ: 30/9 đường H, phường T, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt);

Người làm chứng: Chị Phạm Thị Kim T, sinh năm 1991; Địa chỉ: 41/33/3/5 đường N, phường T, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 07/8/2022, Trịnh Văn Đ cùng chị Phạm Thị Kim T (SN: 1991; HKTT: 41/33/3/5 đường N, phường T, TP Vũng Tàu) đến chơi game tại tiệm game bắn cá tại địa chỉ 469 đường T, phường T, TP Vũng Tàu. Tại đây, Đ gặp Vũ Đức T (Sinh năm: 1975, HKTT: 30/9 đường H, phường T, TP Vũng Tàu) cũng đang chơi trong tiệm game. Khi gặp Đ thì T đòi nợ số tiền 500.000 đồng. Sau đó, giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn, Th dùng nhiều lời lẽ xúc phạm Đ, dẫn đến việc hai bên xảy ra cãi nhau và T ra ngoài lấy xe bỏ đi; Đ cũng đi ra phía bên ngoài tiệm game. Khi đi ra ngoài, Đ nhìn thấy 01 cây gỗ dài khoảng 1m, rộng khoảng 3cm, bề dày khoảng 2cm được dựng bên cạnh chậu kiểng phía trước cổng nhà một người dân nên lấy cầm trên tay đứng chờ T quay lại. Khoảng 20 phút sau, T điều khiển xe máy quay lại tiệm game. Thấy T quay lại thì Đ cầm cây gỗ đánh vào người của T, T dừng xe và bị Đ tiếp tục đánh một phát vào tay làm gãy 1/3 dưới xương trụ tay phải làm T bỏ chạy. Sau khi đánh vào tay của T, Đ vứt cây gỗ ở ven đường rồi bỏ đi.

Tại cơ quan cơ quan điều tra, Trịnh Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nếu trên.

Tại bản kết luận giám định pháp ý về thương tích số 376/TgT ngày 10/10/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận:

- Cẳng tay phải hiện không còn dấu thương tích ngoài da.

- Gãy 1/3 dưới xương trụ phải, lành tốt.

- Thương tích trên được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy, khả năng tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trái sang phải.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vũ Đức T do thương tích gây ra hiện tại là 06%.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án: Không thu giữ được hung khí.

Bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 06/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Trịnh Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị hại là anh Vũ Đức T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về phần trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm hình sự, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của người bị hại; phù hợp với kết luận giám định pháp y, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 23h30 phút ngày 07/8/2022, tại tiệm game bắn cá tại địa chỉ 469 đường T, phường T, TP Vũng Tàu, do mâu thuẫn trong việc Trịnh Văn Đ nợ anh Vũ Đức T số tiền 500.000 đồng nhưng chưa trả, Trịnh Văn Đ đã sử dụng 01 cây gỗ dài khoảng 1m, rộng khoảng 3cm, bề dày khoảng 2cm đánh vào tay phải của anh Vũ Đức T gây thương tích với tỉ lệ 06%.

Như vậy, bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm là một cây gỗ để gây thương tích cho anh Vũ Đức T với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích hiện tại gây ra là 06% (Sáu phần trăm) nên hành vi nêu trên của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, gây ảnh hưởng xấu trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành nên có nhận thức về pháp luật, xã hội. Bị cáo biết và ý thức được hành vi dùng hung khí gây thương tích cho người khác là nguy hiểm song bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Trộm cắp tài sản”, nhưng sau khi ra tù không lấy đó làm bài học tu sửa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy hành vi bị cáo thực hiện cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Vũ Đức T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

trên,

U T ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Trịnh Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Căn cứ: Điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Trịnh Văn Đ: 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ