vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 15 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Vương Thị P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Vương Thị P 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Thị P - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 15 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS - ST
Ngày 16 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đăng Cường 2. Ông Bùi Đức Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Linh – Kiểm sát viên Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 281/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Vương Thị P; tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 8 năm 1977, tại

tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ C, khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ H, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; con ông Vương Đình P1 và bà Nguyễn Thị M; có chồng là Cao Anh Q; có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án: bản án số 41/2017/HSST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/10/2018, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; bản án số 02/2019/HSST ngày 10/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/4/2020, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; bản án 119/2021/HSST ngày 28/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 10/5/2022, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; nhân thân: bản án số 38/HSST ngày 11/5/1999 của Tòa án nhân dân thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích; bản án số 27/HSST ngày 20/5/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích; bản án số 54/2005/HSST ngày 26/9/2005 của Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích; bản án số 26/2007/HSST ngày 17/5/2007 của Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích; bị cáo đầu thú ngày 06/8/2022, bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

- Bị hại: 1. Bà Lý Thu T, sinh năm 1967; nơi thường trú: tổ D, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt). 2. Chị Trần Lệ A, sinh năm 1979; nơi thường trú: tổ G, khu A, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng: Anh Lê Anh T1, sinh năm 1975; nơi thường trú: tổ I, khu A, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/8/2022, Vương Thị P đến chợ H 2 thuộc tổ A, khu B, phường Y,

thành phố H để xem ai có sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, P quan sát thấy chị Trần Lệ A đang mua hàng, trong túi áo bên trái của chị Lệ A có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7 màu đen, ốp nhựa màu xanh, P đến ngồi cạnh phía bên trái người này và dùng tay P lấy chiếc điện thoại. Sau đó P vào nhà vệ sinh công cộng trong chợ và mở ốp điện thoại ra kiểm tra, thấy bên trong có 2.000.000đ (hai triệu đồng) gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Lúc này điện thoại đổ chuông nhưng không tắt được, sợ bị phát hiện nên P để lại số tiền này trong ốp điện thoại, ốp lại như cũ và giấu chiếc điện thoại lên cửa sổ thông gió của nhà vệ sinh.

Khi ra ngoài, P tiếp tục quan sát thấy chị Lý Thu T đang mua hàng trong

chợ, thấy túi quần bên trái phía trước của chị T phồng lên nên P có ý định trộm cắp tài sản trong túi quần của chị T. P đi đến phía sau chị T, dùng 01 túi nilon màu đen che chắn, khi vừa thò tay vào túi quần chị T thì bị chị Thủy phát hiện và tri hô, P chưa kịp lấy được tài sản. P bị đưa về cơ quan Công an để làm việc. Tại đây, P xin đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của chị Lệ A và chị T như trên.

Tại Cơ quan điều tra, P khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu

trên và tự nguyện giao nộp bộ quần áo, khẩu trang, đôi giày và chiếc túi nilon màu đen P sử dụng khi đi trộm cắp tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 143/KLĐGTS ngày 07/8/2022 của Hội

đồng định giá tài sản thành phố H kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7, màu đen, mua mới tháng 9/2018 có giá trị tại thời điểm bị xâm phạm là 4.066.000đ (bốn triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

Tại Kết luận định giá tài sản số 165/KLĐGTS ngày 25/8/2022 của Hội

đồng định giá tài sản thành phố H kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng, dung lượng 64GB, mua mới tháng 10/2019 có giá trị tại thời điểm bị xâm phạm là 15.982.000đ (mười lăm triệu chín trăm tám mươi hai nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số 301/CT-VKSHL ngày 30/11/2022, Viện kiểm sát nhân

dân thành phố Hạ Long đã truy tố Vương Thị P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vương Thị P từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 07/8/2022; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về phần dân sự: Quá trình điều tra, P đã tác động gia đình bồi thường cho

chị Trần Lệ A số tiền 6.066.000đ (sáu triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) nên chị Trần Lệ A không có yêu cầu gì khác. Chị Lý Thu Thuỷ chưa bị mất tài sản nên không có yêu cầu bồi thường.

* Về vật chứng, tài sản: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo chống nắng, có mũ, màu đen, hoạ tiết logo LV, kích thước (90x70)cm; 01 chiếc quần của phụ nữ, màu nâu, có kẻ caro, có mác “Hoa&Nhung Fashion”, kích thước (90x50)cm; 01 đôi giày thể thao, màu trắng, chiều dài khoảng 25cm, rộng khoảng 10cm, có in nhãn hiệu “Fashion Artery”; 01 chiếc khẩu trang vải màu xám - trắng, có kẻ caro và 01 túi nilong màu đen, kích thước (80x40)cm do Vương Thị P tự nguyện giao nộp.

Quá trình khai báo bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét

xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc.

Bị hại - chị Trần Lệ A thể hiện quan điểm về việc khoảng 15 giờ 30 ngày

06/8/2022 đã bị P trộm cắp 01 điện thoại Samsung A7 và 2.000.000đ. Đến nay chị đã được gia đình bị cáo bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì khác.

Bị hại - chị Lý Thu T có lời khai về việc khoảng 16 giờ 30 phút ngày

06/8/2022 đã bị P có hành vi lén lút đưa tay vào túi quần phía trước bên trái của chị nhằm mục đích lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max thì bị chị phát hiện, chưa lấy được tài sản, chị không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Người làm chứng - Chị Phạm Thị P2 có lời khai về việc chị T đang mua

hải sản của chị thì hô hoán và giữ tay P nói bị cáo trộm tài sản của chị T. Sau đó Ban quản lý chợ và Công an phường Y đến đưa những người liên quan về làm việc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: lời khai nhận hành vi phạm

tội của bị cáo Vương Thị P thể hiện do cần tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/8/2022, tại chợ H thuộc tổ A, khu B, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Vương Thị P đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7, màu đen, trị giá 4.066.000đ (bốn triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn) và số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) của chị Trần Lệ A.

Tiếp đó, cũng tại chợ H, P có hành vi lén lút đưa tay vào túi quần phía

trước bên trái của chị Lý Thu T, nhằm mục đích lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng, có giá trị 15.982.000đ (mười lăm triệu chín trăm tám mươi hai nghìn đồng) của chị T thì bị chị T phát hiện, chưa lấy được tài sản.

Tổng giá trị tài sản P trộm cắp là 22.048.000đ (hai mươi hai triệu không

trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh phù hợp với

lời khai của bị hại chị Trần Lệ A về việc bị mất tài sản, chị Lý Thu T về việc bị cáo trộm cắp tài sản của chị nhưng bị phát hiện nên chưa lấy được tài sản; phù hợp với lời khai của người làm chứng chị Phạm Thị P2 về việc bị cáo định trộm cắp tài sản của chị T bị phát hiện nên chưa lấy được tài sản. Đồng thời phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường và kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thành phố H; phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù

hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hành vi nêu trên của bị cáo Vương Thị P đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vương Thị P có 03 tiền án chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, năm 2019 bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” với giá trị tài sản là 334.000đ; do đó tiền án năm 2017 được coi là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 10/02/2021, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Ngày 10/5/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án số 119/2021/HS-ST ngày 28/4/2021 về địa phương; đến ngày 06/8/2022 lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Hành vi của bị cáo đã thể hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật, coi thường các quy tắc đạo đức, xã hội; bị cáo đã lợi dụng sở hở của bị hại trộm cắp tài sản mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội “trộm cắp tài sản”, đã được giáo dục cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội nên cần xử bị cáo mức án nghiêm mới phù hợp với nhân thân, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo phạm tội 02

lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo đã ra

đầu thú; quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả nên được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có công việc, thu nhập nên không

áp dụng. [6] Về phần bồi thường dân sự: bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho chị Trần Lệ A số tiền 6.066.000đ (sáu triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) nên chị Trần Lệ A không có yêu cầu gì khác; chị Lý Thu Thuỷ chưa bị mất tài sản nên không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7,

màu đen, có ốp nhựa màu xanh và số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng), sau khi bị cáo trộm cắp của chị Lệ A đã giấu chiếc điện thoại lên cửa sổ thông gió của nhà vệ sinh nhưng sau đó không tìm thấy, Cơ quan điều tra đã truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa thu hồi được nên không đề cập giải quyết. Đối với 01 chiếc áo chống nắng, có mũ, màu đen, hoạ tiết logo LV, kích thước (90x70)cm; 01 chiếc quần của phụ nữ, màu nâu, có kẻ caro, có mác “Hoa&Nhung Fashion”, kích thước (90x50)cm; 01 đôi giày thể thao, màu trắng, chiều dài khoảng 25cm, rộng khoảng 10cm, có in nhãn hiệu “Fashion Artery”; 01 chiếc khẩu trang vải màu xám - trắng, có kẻ caro và 01 túi nilong màu đen, kích thước (80x40)cm do bị cáo giao nộp, đây là trang phục bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội hiện đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. [8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. [9] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tại phiên tòa, áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều

51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 15 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Vương Thị P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Vương Thị P 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình

phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 07/8/2022.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều

106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo chống nắng, có mũ, màu đen, hoạ tiết logo LV, kích thước (90x70)cm, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần của phụ nữ, màu nâu, có kẻ caro, có mác “Hoa&Nhung Fashion”, kích thước (90x50)cm, đã qua sử dụng; 01 đôi giày thể thao, màu trắng, kích thước dài khoảng 25cm, rộng khoảng 10cm, có in nhãn hiệu “Fashion Artery”, đã qua sử dụng; 01 chiếc khẩu trang vải màu xám - trắng, có kẻ caro, đã qua sử dụng và 01 túi nilong màu đen, kích thước (80x40) cm, đã qua sử dụng. (tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 98/BB-THA ngày 19/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vương Thị P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền

kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ