- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 58, các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2023/HS-ST Ngày 30-10-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trung Thông.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Sỹ Đàn và ông Lê Vĩ Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Biện Đức Th; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07/01/1988; Nơi sinh: tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn Hồng S, xã Thọ Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; CCCD số: 040088031264, cấp ngày: 01/9/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông Biện Đức S và bà Ngô Thị H; Vợ Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2023 đến ngày 23/6/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Phạm Hải H; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28/6/2004; Nơi sinh: tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm A, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; CCCD số: 040204018653, cấp ngày: 31/5/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị Trâm Q; Vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2023 đến ngày 23/6/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
+ Anh Trần Thanh Th; Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn Trường Q, xã Đan Trường, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Cán bộ Công an; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Duy H; Sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn Mỹ Th, xã Hưng Mỹ, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
+ Anh Cao Minh T; Sinh năm 1990; Nơi cư trú: Xóm Hạ Kh, xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Buôn bán; vắng mặt.
+ Chị Lưu Thị Kim O; Sinh năm 1996; Nơi cư trú: Xóm A, xã Hưng Chính, TP Vinh, Nghệ An (Hiện ở: Quán Photo Kim O, khối A, thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An); Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
+ Chị Đậu Thị Tuyết M; Sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn Hồng Th, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị H; Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn Lam Thủy, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Buôn bán; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Lê Th; Sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn Lam Th, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Cán bộ Công an; vắng mặt.
+ Cháu Trịnh Cẩm V; Sinh năm 2006; Nơi cư trú: Thôn Lam Th, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Học sinh; người đại diện: Chị Nguyễn Thị H; Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn Lam Thủy, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Buôn bán; vắng mặt.
+ Anh Đặng Hồng C; Sinh năm 1994; Nơi cư trú: Số A, đường Đặng Thai Mai, xã Hưng Đông, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Kinh doanh; vắng mặt.
+ Anh Tôn Hoàng Lg; Sinh năm 2003; Nơi cư trú: Khối A, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An (Hiện ở: Khối Yên Đ, phường Nghi Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An); Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
+ Anh Mai Văn A; Sinh năm 2002; Nơi cư trú: Khối A, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn Th; Sinh năm 1988; Nơi cư trú: Xóm A, xã Hưng Nghĩa, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt.
+ Anh Nguyễn Văn T; Sinh năm 1992; Nơi cư trú: Xóm A, xã Hưng Phúc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (Hiện ở: Khối A, phường Vinh Tân, TP Vinh, Nghệ An); Nghề nghiệp: Kinh doanh; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn N; Sinh năm 1997; Nơi cư trú: Xóm A, xã Hưng Phúc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Sửa xe máy; vắng mặt.
+ Anh Dương Anh S; Sinh năm 1992; Nơi cư trú: Khối Cộng H, phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị H; Sinh năm 1958; Nơi cư trú: Khối Vinh T, phường Hưng Bình, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Hưu trí; vắng mặt.
+ Anh Mai Xuân L; Sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn Phường A, xã Vĩnh Hà, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế (Hiện ở: Số A, đường Nguyễn Trãi, khối 6, phường Quán Bàu, TP Vinh, Nghệ An); Nghề nghiệp: Sửa xe máy; vắng mặt.
+ Ông Biện Đức S; Sinh năm 1960; Nơi cư trú: Thôn Hồng S, xã Thọ Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Hưu trí; vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị Trâm Q; Sinh năm 1985; Nơi cư trú: Xóm A, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt.
+ Chị Trần Thị Kim Nh; Sinh năm 1987; Nơi cư trú: Khối Xuân L, phường Đông Vĩnh, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt.
+ Ông Nguyễn Sỹ X; Sinh năm 1949; Nơi cư trú: Khối A, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Hưu trí; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 20/6/2023, Biện Đức Th rủ Phạm Hải H đi trộm cắp xe máy, H đồng ý. Sau đó, Th điều khiển xe máy Wave, sơn màu xanh, đeo biển kiểm soát 37N1 – 612.86 (xe Th và H lấy trộm của chị Đậu Thị Tuyết M trước đó nhưng đã dán thay màu sơn và thay biển kiểm soát) chở H đi từ phòng trọ ở khối 13, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An sang địa bàn huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh tìm xem có ai sở hở, để và dựng xe máy ở ngoài đường, chìa khóa xe vẫn đang cắm trong ổ khóa điện của xe thì lấy trộm đưa đi bán hoặc cầm cắm lấy tiền tiêu xài, phục vụ nhu cầu cá nhân. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đi qua nhà anh Nguyễn Đức V ở thôn An T, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, quan sát thấy chiếc xe máy Wave, sơn màu đen – bạc, biển kiểm soát 38N1 – 262.57 của anh Trần Thanh Th, sinh năm 1984, trú tại thôn Trường Q, xã Đan Trường, huyện Nghi Xuân (xe anh Th mượn của anh Nguyễn Lê Th, sinh năm 1988, trú tại: thôn Lam Th, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân) đang dựng trên vỉa hè trước cổng nhà anh V, chìa khóa vẫn đang cắm trong ổ khóa điện của xe, Th đã dừng xe lại để cho H xuống lấy trộm rồi điều khiển xe đi về hướng thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Lúc này, anh Th đang đứng nói chuyện với anh Lê Thế H, sinh năm 1982, trú tại: tổ dân phố Giang Th, thị trấn Tiên Điền, huyện Nghi Xuân trước cổng trụ sở UBND xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân và phát hiện thấy việc Th, H lấy trộm xe nên anh Th nói anh H đi xe máy bám đuổi theo Th và H, đồng thời gọi điện cho một số cán bộ Công an huyện Nghi Xuân phối hợp đuổi bắt. Khi đi đến khu vực cầu Bến Thủy I thuộc địa phận thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân thì Th và H bị anh Th, anh H cùng lực lượng Công an bắt giữ. Sau đó anh Th đã bàn giao Th và H cùng tang vật (01 xe máy Th, H lấy trộm của anh Th và 01 xe máy Th, H sử dụng làm phương tiện chở nhau đi trộm cắp tài sản) cho cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 23/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Nghi Xuân kết luận: xe máy Wave, biển kiểm soát 38N1 – 262.57 trị giá 17.722.000 đồng.
Cùng với hình thức, thủ đoạn tương tự như trên, trong thời gian từ ngày 24/5/2023 đến ngày 14/6/2023, Th và Huy còn thực hiện 05 vụ trộm cắp xe máy khác trên địa bàn huyện Hưng Nguyên và thành phố Vinh của tỉnh Nghệ An và huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 24/5/2023, Biện Đức Th điều khiển xe máy Novou LX, sơn màu vàng cát, không rõ biển kiểm soát (xe Th mua của một người không quen biết vào thời gian từ đầu năm 2023 để sử dụng) chở Phạm Hải H đến địa bàn xã Hưng Mỹ, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Khi đi qua nhà anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1990, ở thôn Mỹ Th, xã Hưng Mỹ, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An quan sát phát hiện thấy có chiếc xe máy Sirius, sơn màu trắng – đen – vàng, biển kiểm sát 37B1 – 911.09 dựng trước sân (xe anh Hoàng mua của anh Nguyễn Sỹ D, sinh năm 1982, quê ở xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An vào ngày 29/4/2023 để sử dụng), Th đã dừng xe lại để H đi vào dắt trộm xe ra ngoài. Do xe không có chìa khóa nên H cầm lái điều khiển xe còn Th điều khiển xe Novou LX đi phía sau và dùng chân đạp, đẩy chiếc xe đó về gửi tại nhà giữ xe của cơ sở 2 Bệnh viện thành phố Vinh ở đường Lệ Ninh, thuộc phường Quán Bàu, thành phố Vinh. Sáng ngày 25/5/2023, Th nhờ một người thợ sửa khóa không quen biết (Th tìm và lấy số điện thoại của người này trên mạng Internet để liên lạc) đến làm chìa khóa xe. Sau đó Th và H đưa chiếc xe máy trộm được nói trên đến cầm cắm cho Đặng Hồng C chủ quán Bi–a ở số 344, đường Đặng Thái Mai, thuộc xã Hưng Đông, thành phố Vinh được 900.000 đồng. Quá trình cầm, cắm, Th và H không nói cho C biết nguồn gốc xe là do trộm cắp mà có, còn số tiền cầm, cắm xe thì Th và H đã cùng nhau tiêu xài hết. Khi biết nguồn gốc xe máy mình nhận cầm, cắm là do trộm cắp mà có, Đặng Hồng C đã đưa xe giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân. Kết quả định giá xác định xe trị giá 3.000.000 đồng.
Vụ thứ 2: Khoảng 21 giờ ngày 27/5/2023, Biện Đức Th điều khiển xe máy Novou LX, sơn màu vàng cát, không rõ biển kiểm soát (xe của Th) chở Phạm Hải H đến địa bàn xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Khi đi qua nhà anh Cao Minh T, sinh năm 1990, ở xóm Hạ Kh, xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An quan sát thấy có chiếc xe máy Wave, sơn màu xanh – đen – bạc, biển kiểm soát 37N1 – 570.71 của anh T dựng ở trước cửa, chìa khóa vẫn đang cắm ở trong ổ khóa điện của xe, Th đã dừng xe lại để H xuống lấy trộm rồi đi xe về thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Sau đó, thông qua Tôn Hoàng Lg, sinh năm 2003, trú tại khối Yên Đ, phường Nghi Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An (bạn của Huy) giới thiệu, Th và H đã đưa xe đến cầm cắm cho Mai Văn A, sinh năm 2002, trú tại khối A, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An được 2.700.000 đồng. Quá trình cầm, cắm, Th, H không nói cho L và A biết nguồn gốc xe là do trộm cắp mà có, còn số tiền cầm, cắm xe thì Th và H đã cùng nhau tiêu xài hết. Kết quả định giá xác định xe trị giá 2.123.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân đã thu hồi xe và trả lại cho người bị hại, hiện anh Cao Minh T không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường dân sự và có đơn đề nghị các cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Th và H.
Vụ thứ 3: Khoảng 21 giờ đầu tháng 6/2023 (ngày không nhớ rõ), Biện Đức Th điều khiển xe máy Novou LX, sơn màu vàng cát, không rõ biển kiểm soát (xe của Th) chở Phạm Hải H đến địa bàn xã Hưng Chính, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Khi đi qua quán tạp hóa Hiến Hường ở số 190, đường Kim Liên, xóm 8, xã Hưng Chính, , thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An quan sát thấy có chiếc xe máy Wave Alpha, sơn màu xanh – đen – bạc, biển kiểm soát 37N1 – 612.86 của chị Lưu Thị Kim O, sinh năm 1996, trú tại khối A, thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên dựng trước quán tạp hóa, chìa khóa vẫn đang cắm ở trong ổ khóa điện của xe, Th đã dừng xe lại để H xuống lấy trộm rồi đưa xe về phòng trọ Th thuê của gia đình ông Nguyễn Sỹ Xuân ở khối 13, phường Cửa Nam, thành phố Vinh cất dấu. Khoảng vài ngày sau, Th và H đưa xe đến một quán sửa xe không quen biết ở trên đường Đặng Thái Thân, thành phố Vinh dán lại thành màu tím. Sau đó, H tháo, cất biển kiểm soát của xe dưới gầm gường ở phòng trọ và lấy biển kiểm soát 37N8 – 2164 (biển kiểm soát xe máy của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958, trú tại khối Vinh T, phường Hưng Bình, thành phố Vinh bán cho anh Mai Xuân L, sinh năm 1983, trú tại khối 6, phường Quán Bàu, thành phố Vinh) do Huy nhặt được trước đó lắp vào xe rồi Th và Huy sử dụng xe làm phương tiện đi lại. Đến ngày 10/6/2023, Th và H đã bán chiếc xe máy này cho Nguyễn Văn Th, sinh năm 1988, trú tại xóm A, xã Hưng Nghĩa, huyện Hưng Nguyễn, tỉnh Nghệ An với giá 5.000.000đ. Quá trình mua bán, Th và H không nói cho Th biết nguồn gốc xe là do trộm cắp mà có, còn số tiền bán xe thì Th và H đã cùng nhau tiêu xài hết. Kết quả định giá xác định xe trị giá 4.244.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân đã thu hồi xe và trả lại cho người bị hại. Hiện chị Lưu Thị Kim O không có yêu cầu gì về việc bồi thường dân sự và có đơn đề nghị các cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Th và H.
Vụ thứ 4: Khoảng 21 giờ ngày 09/6/2023, Biện Đức Th điều khiển xe máy Wave Alpha, sơn màu tím, đeo biển kiểm soát 37N8 – 2164 (xe lấy trộm của chị Lưu Thị Kim O nhưng đã dán thay màu sơn và thay biển kiểm soát) chở Phạm Hải H đến địa bàn thị trấn Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Khi đi qua nhà anh Đậu Ánh S, sinh năm 1979, ở tổ dân phố Lam Thủy, thị trấn Tiên Điền, , huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh quan sát thấy có chiếc xe máy Wave, sơn màu đen, biển kiểm soát 38X1 – 6112 của chị Đậu Thị Tuyết M, sinh năm 1983, trú tại thôn Hồng Th, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân (em gái của anh S) dựng trong sân nhà anh S, chìa khóa vẫn đang cắm ở trong ổ khóa điện của xe, Th đã dừng xe lại để cho H vào lấy trộm và đưa xe về phòng trọ ở khối 13, phường Cửa Nam, thành phố Vinh cất dấu. Khoảng vài ngày sau, Th và H đưa xe đến một quán sửa xe không quen biết ở thành phố Vinh dán lại thành màu xanh. Sau đó, Huy tháo và vất biểm kiểm soát rồi lấy biển kiểm soát 37N1– 612.86 (biển kiểm soát xe máy lấy trộm của chị Lưu Thị Kim O) lắp vào xe và sử dụng làm phương tiện đi lại. Tối ngày 20/6/2023, Th và H sử dụng chiếc xe máy này làm phương tiện đi trộm cắp tài sản ở địa bàn huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh thì bị phát hiện bắt quả tang, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân đã thu giữ xe làm vật chứng của vụ án. Kết quả định giá xác định xe trị giá 2.000.000 đồng. Sau khi thu giữ, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân đã giao trả lại xe máy cho người bị hại. Đối với thiệt hại do xe bị thay đổi màu sơn và mất biển kiểm soát, ông Biện Đức S (bố của Th) và bà Nguyễn Thị Trâm Q (mẹ của H) đã thỏa thuận bồi thường cho chị Đậu Thị Tuyết M số tiền 1.000.000 đồng. Hiện chị M không có yêu cầu gì về việc bồi thường dân sự và có đơn đề các cơ quan pháp luật xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho Th và H.
Vụ thứ 5: Khoảng 21 giờ ngày 14/6/2023, Biện Đức Th điều khiển xe máy Wave, sơn màu xanh, đeo biển kiểm soát 37N1 – 612.86 (xe lấy trộm của chị Đậu Thị Tuyết M nhưng đã dán thay màu sơn và thay biển kiểm soát) chở Phạm Hải H đến địa bàn xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Khi đi qua quán cơm của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980, ở thôn Lam Th, xã Xuân Giang, , huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh quan sát thấy có chiếc xe máy nhãn hiệu DIBAO loại RS, sơn màu xanh – bạc, biển kiểm soát 38AN – 021.09 (xe chị H mượn của con gái tên là Trịnh Cẩm V, sinh năm 2006, trú tại thôn Lam Th, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân) dựng trên vỉa hè, chìa khóa vẫn đang cắm ở trong ổ khóa điện của xe, Th đã dừng xe lại để cho H xuống lấy trộm rồi đưa xe về phòng trọ ở khối 13, phường Cửa Nam, thành phố Vinh cất dấu. Sau khi kiểm tra thấy trong cốp xe có giấy đăng ký xe mang tên Trịnh Cẩm V, ngày 15/6/2023, thông qua Nguyễn Văn N, sinh năm 1997, trú tại xóm 5, xã Hưng Phúc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An giới thiệu, Th và H đã bán chiếc xe trộm được nói trên cho Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, ở khối 1, phường Vinh Tân, thành phố Vinh (anh trai của Nghĩa) với giá 3.000.000 đồng. Quá trình mua bán, Th, H không nói cho Nghĩa và Tài biết nguồn gốc xe là do trộm cắp mà có, còn số tiền bán xe thì Th và Huy đã cùng nhau tiêu xài hết. Kết quả định giá xác định xe trị giá 13.712.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân đã thu hồi và trả lại xe cho chủ sở hữu. Hiện chị Nguyễn Thị H không có yêu cầu gì về việc bồi thường dân sự và có đơn đề các cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Th và H.
Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Thu giữ trong quá trình bắt giữ Biện Đức Th và Phạm Hải H, gồm: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, sơn màu đen – bạc, biển kiểm soát 38N1 – 262.57 và 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, sơn màu xanh, đeo biển kiểm soát 37N1 – 612.86. Đặng Hồng C giao nộp 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha loại Sirius, sơn màu trắng – đen – vàng, biển kiểm soát 37B1 – 911.09. Mai Văn A giao nộp 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, sơn màu xanh – đen – bạc, biển kiểm soát 37N1 – 570.71. Nguyễn Văn Th giao nộp 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave Alpha, sơn màu tím, đeo biển kiểm soát 37N8 – 2164. Nguyễn Văn T giao nộp 01 (một) xe máy nhãn hiệu DIBAO loại RS, sơn màu xanh – bạc, biển kiểm soát 38AN – 021.09 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 38001690 do Công an huyện Nghi Xuân cấp ngày 04/8/2021 mang tên Trịnh Cẩm V.
Quá trình điều tra, sau khi thu thập các tài liệu làm rõ chủ sở hữu tài sản, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân đã giao trả: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, sơn màu đen – bạc, biển kiểm soát 38N1 – 262.57 cho anh Nguyễn Lê Th; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, sơn màu xanh – đen – bạc, biển kiểm soát 37N1 – 570.71 cho anh Cao Minh T; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave Alpha, sơn màu tím và 01 biển kiểm soát 37N1 – 612.86 cho chị Lưu Thị Kim O; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, sơn màu xanh cho chị Đặng Thị Tuyết Mai; 01 (một) giấy đăng ký xe mang tên Trịnh Cẩm V và 01 (một) xe máy nhãn hiệu DIBAO loại RS, sơn màu xanh – bạc, biển kiểm soát 38AN – 021.09 cho cháu Trịnh Cẩm V; 01 (một) biển kiểm soát 37N8 – 2164 cho anh Mai Xuân L. Còn 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha loại Sirius, sơn màu trắng – đen – vàng, biển kiểm soát 37B1 – 911.09 được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Nghi Xuân để xử lý theo pháp luật.
Đối với biển kiểm soát 38X1 – 6112 (xe máy của chị Đậu Thị Tuyết M) do Phạm Hải H đã tháo vất đi nên không thu hồi được. Ngoài ra, trong quá thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Biện Đức Th và Phạm Hải H còn sử dụng xe máy và điện thoại di động làm phương tiện phạm tội. Nhưng do xe máy Novou LX, sơn màu vàng cát, không rõ biển kiểm soát, Th đã bán cho một người không quen biết; điện thoại di động của Th bị hỏng nên Th đã vất đi còn điện thoại di động của H đã bị rơi mất nên không thu giữ được để xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà Biện Đức Th và Phạm Hải H chiếm đoạt của các bị hại trong vụ án gồm 06 xe máy các loại. Tổng trị giá thiệt hại về tài sản là: 42.801.000 đồng. Sau khi lấy trộm, Th và H đã đưa 04 xe đi tiêu thụ còn 02 xe chưa kịp tiêu thụ thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân thu giữ. Tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội là: 11.600.000đ, Th và H đã cùng nhau tiêu xài hết. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân đã thu hồi được 06 xe máy, trong đó có xe máy của chị Lưu Thị Kim O bị Th và H đưa đi dán thay đổi màu sơn; xe máy của chị Đậu Thị Tuyết M bị mất biển kiểm soát và thay đổi màu sơn. Trong quá trình điều tra, do Th, H có sự tác động và nhờ gia đình nên ông Biện Đức S (bố của Th) cùng bà Nguyễn Thị Trâm Q (mẹ của Huy) đã đến gặp xin lỗi và thỏa thuận bồi thường cho cho Đậu Thị Tuyết M số tiền 1.000.000 đồng (ông S 500.000đ; bà Q 500.000đ) và nộp lại toàn bộ số tiền 11.600.000 đồng mà Th, H thu lợi bất chính từ việc phạm tội (ông S nộp 5.850.000đ; bà Q nộp 5.750.000đ). Hiện nay, những người bị hại trong vụ án đều không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường dân sự; các bị hại Cao Minh T, Lưu Thị Kim O, Đậu Thị Tuyết M, Nguyễn Thị H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Biện Đức Th và Phạm Hải H.
Với hành vi trên, Cáo trạng số 34/CT –VKSNX ngày 29/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân đã truy tố các bị cáo Biện Đức Th và Phạm Hải H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Người bị hại vắng mặt tuy nhiên lời khai có trong hồ sơ vụ án phù hợp với như lời trình bày của các bị cáo và nội dung bản cáo trạng; không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm về mặt dân sự.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt trình bày lời khai như lời khai của bị cáo; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên lời khai tại hồ sơ vụ án phản ánh nội dung như lời trình bày của các bị cáo và nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Biện Đức Th và Phạm Hải H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Biện Đức Th và Phạm Hải H mức án từ 36 đến 42 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2023. Ngoài ra còn đề xuất xử lý vật chứng và án phí.
Các bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 24/5/2023 đến ngày 20/6/2023, Biện Đức Th và Phạm Hải H đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu trong quá trình quản lý tài sản thực hiện 06 vụ trộm cắp xe máy; cụ thể:
Ngày 24/5/2023 lấy trộm của anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1990, ở thôn Mỹ Th, xã Hưng Mỹ, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 01 chiếc xe máy Sirius, biển kiểm sát 37B1 – 911.09 trị giá 3.000.000 đồng.
Ngày 27/5/2023 lấy trộm của anh Cao Minh T, sinh năm 1990, ở xóm Hạ Kh, xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 01 chiếc xe máy Wave, biển kiểm soát 37N1 – 570.71 trị giá 2.123.000 đồng.
Ngày đầu tháng 6/2023 lấy trộm của chị Lưu Thị Kim O, sinh năm 1996, trú tại khối A, thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 01 chiếc xe máy Wave Alpha, biển kiểm soát 37N1 – 612.86 trị giá 4.244.000 đồng.
Ngày 09/6/2023 lấy trộm của chị Đậu Thị Tuyết M, sinh năm 1983, trú tại thôn Hồng Th, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh 01 chiếc xe máy Wave, biển kiểm soát 38X1 – 6112 trị giá 2.000.000 đồng.
Ngày 14/6/2023 lấy trộm của chị Nguyễn Thị H; Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn Lam Th, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh 01 chiếc xe máy DIBAO loại RS, biển kiểm soát 38AN – 021.09 trị giá 13.712.000 đồng.
Ngày 20/6/2023 lấy trộm của anh Trần Thanh Th; Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn Trường Q, xã Đan Trường, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh 01 chiếc xe máy Wave, biển kiểm soát 38N1 – 262.57 trị giá 17.722.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt 42.801.000 đồng.
Sau khi lấy trộm, Th và H đã đưa 04 xe đi tiêu thụ còn 02 xe chưa kịp tiêu thụ thì bị cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân thu giữ. Tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội là: 11.600.000 đồng, Th và H đã cùng nhau tiêu xài hết.
Hành vi của các bị cáo Biện Đức Th và Phạm Hải H lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có tổng trị giá 42.801.000 đồng; các bị cáo thực hiện hành vi khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản, trong thời điểm phạm tội, các bị cáo đều lấy việc thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản làm nghề sinh sống và sử dụng số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập chính để chi phí các khoản phục vụ cho cuộc sống của bản thân; vì vậy các bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Do đó việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về đánh giá vai trò vị trí của các bị cáo trong vụ án: Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, Biện Đức Th và Phạm Hải H đều là người thực hành. Trong đó Phạm Hải H là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản và là người trực tiếp lấy trộm xe máy của các bị hại còn Biện Đức Th là người điều khiển phương tiện chở H đi trộm cắp tài sản và là người trực tiếp quản lý, chi tiêu số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội. Vì vậy các bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo 06 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đều đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” vì vậy các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo; các bị cáo tự nguyện khai báo về hành vi phạm tội của mình trước khi bị phát hiện; các bị cáo tác động nhờ gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại và nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo do đó cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nhằm giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Trong vụ án, Đặng Hồng C, Tôn Hoàng Lg, Mai Văn A, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn T là những người có liên quan đến việc tiêu thụ các xe máy do Biện Đức Th và Phạm Hải H trộm cắp mà có. Nhưng xét trong quá trình tiêu thụ, những người này đều không biết nguồn gốc các xe máy mình tham gia mua bán, cầm, cắm là tài sản do Th và H phạm tội mà có. Sau khi biết được sự việc, họ đã thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác và giao nộp lại tài sản để trả cho người bị hại. Đối với ông Nguyễn Sỹ Xuân là người cho Biện Đức Th và Phạm Hải H thuê phòng trọ để ở, ông Xuân hoàn toàn không biết việc Th và H đưa xe máy do trộm cắp mà có về cất dấu trong phòng trọ. Vì vậy không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này về tội: “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Về vật chứng: Các vật chứng đã được Cơ quan điều tra trả lại trong quá trình điều tra là đúng quy định nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha loại Sirius, sơn màu trắng – đen – vàng, biển kiểm soát 37B1 – 911.09 đây là tài sản của anh Nguyễn Duy H; Sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn Mỹ Th, xã Hưng Mỹ, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An nên cần trả lại cho anh H.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu số tiền thu lợi bất chính 11.600.000 đồng do gia đình các bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân. Trong đó, ông Biện Đức S (bố của bị cáo Th) nộp 5.850.000đ theo biên lai thu tiền số 0007451 ngày 28/8/2023; bà Nguyễn Thị Trâm Q (mẹ của bị cáo H) nộp 5.750.000đ theo biên lai thu tiền số 0007452 ngày 29/8/2023 để sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 58, các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293; Điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Biện Đức Th và Phạm Hải H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
3. Về hình phạt chính:
3.1. Xử phạt Biện Đức Th 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2023.
3.2. Xử phạt Phạm Hải H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2023.
4. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính 11.600.000 đồng do gia đình các bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân theo biên lai thu tiền số 0007451 ngày 28/8/2023 và số 0007452 ngày 29/8/2023.
5. Về vật chứng: Trả cho anh Nguyễn Duy H; Sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn Mỹ Th, xã Hưng Mỹ, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha loại Sirius, sơn màu trắng – đen – vàng, biển kiểm soát 37B1 – 911.09.
Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/10/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân.
6. Về án phí: Các bị cáo Biện Đức Th và Phạm Hải H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Nghi Xuân; - CQCSĐT Công an huyện Nghi Xuân; - CQTHAHS Công an huyện Nghi Xuân; - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - Chi cục THADS huyện Nghi Xuân; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Hồ sơ Công an; - Bị cáo; Người bị hại; NCQLNVLQ và người đại diện; - Lưu: HS; VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký đóng dấu) Hoàng Trung Thông |