vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 13/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời đểm chấp hành án tính từ ngày 17/02/2023. Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn C phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày 13-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

2. Ông Danh Út Nhỏ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoài Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/HSST-QĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Trương Văn C, sinh năm 1978, nơi sinh: Gò Quao – Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp VH4, xã VHHN, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Ng (đã chết) và bà Lê Thị B (đã chết), bị cáo chưa có vợ con, anh chị em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1986. Tiền án: 01 tiền án, ngày 09/7/2021 Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo bản án số 38/2021/HS-ST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2022), tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam theo lệnh tạm giam số 04 ngày 23/02/2023 của Cơ quan Cảnh sát cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao (tạm giữ từ ngày 17/02/2023), có mặt.

Bị hại: Anh Diệp Văn M, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp VH3, xã VHHN, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

Người làm chứng:

1/ Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1952. Nơi cư trú: ấp VH3, xã VHHN, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

2/ Ông Lê Thanh Tg. Nơi cư trú: ấp VH3, xã VHHN, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 16/02/2023 Trương Văn C cùng với anh Diệp Văn M đến nhà ông Nguyễn Văn L thuộc ấp Vĩnh Hòa 3, xã Vĩnh Hòa Hưng Nam, huyê ̣n Gò Quao , tỉnh Kiên Giang để uống bia cùng với ông L và anh Nguyễn Văn Trg (con ông L); uống được một lúc thì anh Trg đi ngủ trước, anh M sau đó cũng định ra về, C nói đợi lát về luôn nên anh M lên võng ngủ và để điện thoại trên bàn tròn, gần chỗ võng anh đang nằm. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 17/02/2023 C ra về và nhìn thấy chiếc điện thoại anh M để trên bàn nên nảy sinh ý định trộm chiếc điện thoại trên để cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân. C lấy điện thoại của anh M rồi cất giấu vào trong người và đi về nhà ông Lê Thanh Tg ngụ cùng ấp (do ở đậu nhà ông Tg), sau đó bị cáo tháo sim điện thoại và dấu điện thoại trên vào tủ quần áo nhà ông Tg rồi đi ngủ. Đến sáng hôm sau, người nhà ông Tg tìm đồ trong tủ thì phát hiện chiếc điện thoại nên trình báo Công an. Quá trình điều tra, Trương Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Gò Quao kết luận:

“01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, số Imei 1: 869945065145639, số Imei 2: 869945065145621, Ram 4GB mua tháng 01/2023. Tính đến thời điểm tháng 02/2023 có giá trị là 4.990.000đ (Bốn triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng)”.

* Vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, số Imei 1: 869945065145639, số Imei 2: 869945065145621, Ram 4GB và 01 (một) que gỡ sim bằng kim loại. Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả cho bị hại anh Diệp Văn M các vật chứng nêu trên theo quyết định xử lý vật chứng số 07 ngày 02/3/2023.

Tại Bản cáo trạng số 25/CT-VKSND-GQ, ngày 11/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao đã truy tố bị cáo Trương Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Văn C mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Về biện pháp tư pháp: Không có.

Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Gò Quao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại và những người làm chứng đều có đơn xin vắng mặt và việc vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Xét thấy việc vắng mặt những người này nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 17/02/2023 tại nhà ông Nguyễn Văn L thuộc ấp Vĩnh Hòa 3, xã Vĩnh Hòa Hưng Nam, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, bị cáo C lợi dụng đêm khuya, bị hại ngủ say đã lén lút lấy trộm một điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, Ram 4GB của anh Diệp Văn M, giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 4.990.000đ (Bốn triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) nhằm cầm để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Như vậy, hành vi lấy trộm tài sản của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm đều bị xử lý nghiêm nhưng với bản chất lười lao động muốn có tiền tiêu xài nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo C có 01 tiền án ngày 09/7/2021 Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo bản án số 38/2021/HS-ST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2022 nhưng chưa được xóa án tích. Lẽ ra sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương bị cáo phải cố gắng lao động chân chính nhưng trái lại đến ngày 17/02/2023 bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên đây là tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên cũng xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị cáo lấy trộm đã được thu hồi giao trả cho bị hại và bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao về việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu anh Diệp Văn M.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Trương Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời đểm chấp hành án tính từ ngày 17/02/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao trả lại tài sản cho chủ sở hữu anh Diệp Văn M.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong th ời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ