vanban.org

Bản án 34/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 06/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn được tính từ ngày 14/3/2023. Tuyên bố: Bị cáo Cao Hoàng N phạm tội “cướp giật tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH HẬU GIANG
–––––––––––––––
Bản án số: 34/2023/HS-ST
Ngày: 06/7/2023.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nhân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Trường.

2. Ông Nguyễn Văn Bỉnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Ngân Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Thắm– Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Ngọc T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 09/12/1999, tại: huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: ấp Phú Xuân, thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện nay: không có nơi ở ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 01/12; Họ tên cha: Nguyễn Ngọc N, Sinh năm: 1983 (sống); Họ tên mẹ: Trần Thị Kim T, Sinh năm: 1981 (sống); Em ruột 01 người, sinh năm 2005; Bị cáo chưa có vợ

Tiền án: 01 lần. Vào ngày 26/01/2021, bị Tòa án nhân huyện Châu Thành xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/7/2021.

Tiền sự: 02 lần. Ngày 12/10/2021, bị Ủy ban nhân dân thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn, thời gian 03 tháng, chấp hành xong ngày 12/01/2022. Ngày 29/11/2021, bị Công an huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người, công cụ dùng trong sinh hoạt hằng ngày nhằm mục đích gây thương tích cho người khác”, chưa đóng phạt.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2023 đến ngày 17/3/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Châu Thanh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Cao Hoàng N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 11/10/1993, tại: huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: số 307/7B ấp Cứ Mạnh, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: số 307/7B ấp Cứ Mạnh, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Họ tên cha: Cao Hùng P, Sinh năm: 1964 (sống); Họ tên mẹ: Võ Kim B, Sinh năm: 1967 (sống); Anh chị em ruột 03 người, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1997. Họ tên vợ: Trần Thị Đ, sinh năm: 1992; Con ruột có 02 người, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án: 01 lần. Vào ngày 11/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, chấp hành xong án phạt tù ngày 17/5/2022.

Tiền sự: 01 lần. Vào ngày 21/03/2023, bị Công an huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, chưa đóng phạt.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/3/2023 đến ngày 22/3/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Châu Thành cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Bà Võ Thị Mộng C, sinh năm 1981. (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Bình, thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Chổ ở hiện nay: ấp Phú Nhơn, xã Đông Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi và nghãi vụ liên quan:

1/ Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1978. (có đơn xin vắng mặt)

2/ Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 2000. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp Hoà Quới, xã Xuân Hoà, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/3/2023, Trần Ngọc T cùng Cao Hoàng N, đang ở tại nhà nghỉ 999, địa chỉ: số 13/5/7 Quốc lộ 91B, Khu vực Bình Phó A, phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Lúc này, T điện thoại nhờ Nguyễn Thành L, mua dùm cơm và nước uống đem lên cho T. Tại đây, T hỏi mượn xe mô tô hiệu Honda Vario 150, màu xanh đen, biển số 83C1-646.84 của L đi công chuyện, L đồng ý cho mượn. Sau khi mượn được xe, T chở N đi, trên đường đi T và N bàn bạc và thống nhất với nhau tìm người đi đường có tài sản sơ hở để giật lấy tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. T điều khiển xe chở N đến địa bàn xã Đông Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, chạy qua khỏi cầu Đông Phú khoảng 50m (hướng ra Quốc lộ Nam Sông Hậu) thuộc ấp Phú Nhơn, xã Đông Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thì Trọng dừng xe lại mở cốp xe để lấy áo khoác mặc vào. Lúc này, Trọng nhìn thấy bà Võ Thị Mộng C, là chủ tiệm tạp hóa Duy An đang đứng nghe điện thoại trong tiệm. Lúc này T và N thống nhất giật điện thoại của bà C, T chở N quay xe đậu trên lộ trước cửa tiệm bà C và đưa cho N bình xịt hơi cay (T đem theo từ nhà nghỉ 999 và để trong túi) rồi N đi vào tiệm hỏi mua ống quẹt ga, mục đích là lợi dụng khi bà C sơ hở để giật lấy điện thoại. Sau khi bà C bán ống quẹt ga cho N xong, bà C đi vào tiệm thì N chạy theo sau lưng dùng tay giật lấy điện thoại di động hiệu Samsung GalaxyA10 của bà C đang cầm trên tay rồi chạy ra lên xe T đang chờ sẳn, T chưa kịp nổ máy xe chạy đi thì bị bà C chạy ra kéo giữ xe lại và truy hô cướp, cướp nhiều lần, Nhớ lấy bình xịt hơi cay T đưa xịt vào người bà C cho bà C buông xe để T và N chạy đi nhưng bà C tiếp tục kéo giữ xe và truy hô làm xe của T bị ngã và điện thoại N giật của bà C bị rớt lại, T và N bỏ lại xe và chạy trốn. Đến ngày 13/3/2023 Trần Ngọc T bị Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Châu Thành bắt giữ và đến ngày 19/3/2023, Cao Hoàng N cũng bị bắt giữ.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản: số 07/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh (đã qua sử dụng) trị giá là: 943.300đ (chín trăm bốn mươi ba ngàn, ba trăm đồng).

Đối với Nguyễn Thành L là người cho T mượn xe, sau đó T và N dùng xe đi Cướp giật tài sản. Việc T và N sử dụng xe đi Cướp giật tài sản thì L không biết. Đồng thời, không có căn cứ xác định Nguyễn Thành L đồng phạm với Trần Ngọc T và Cao Hoàng N nên không đề cặp xử lý.

Việc bị cáo N dùng bình xịt hơi cay xịt vào người bà Cầm để tẩu thoát nhưng không gây thương tích cho bà C, đồng thời bà C có đơn từ chối giám định thương tích nên không có cơ sở để xem xét.

- Về vật chứng:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 150, biển kiểm soát 83C1-646.84 là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của Nguyễn Thành L. Việc T và N dùng xe đi Cướp giật tài sản thì Lộc không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho L.

Đối với điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh đen, số sêri R58M66HEGRJ là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của Võ Thị Mộng C. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho bà C.

- 02 (hai) chiếc dép (loại dép quay kẹp), hiệu hawainas và 02 (hai) chiếc dép (loại dép quay ngang), hiệu Givenchy.

- Phần trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Thị Mộng C đã nhận lại tài sản bị cướp giật là điện thoại hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh đen, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo. Tài liệu chứng cứ thu thập hoàn toàn khách quan, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành giữ nguyên cáo trạng số 35/CT-VKS-HCT ngày 31/5/2023 quyết định truy tố bị cáo Trần Ngọc T và Cao Hoàng N về tội “cướp giật tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trần Ngọc T và Cao Hoàng N có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Ngọc T từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Cao Hoàng N từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Ngọc T, bị cáo Cao Hoàng N: thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với quyết định truy tố, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình trái với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để có cơ hội sớm về với gia đình

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, lời khai của bị hại và của những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Ngọc T và bị cáo Cao Hoàng N tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra như: Sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá và phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định ngày 11/3/2023, Trần Ngọc T cùng Cao Hoàng N đang ở tại nhà nghỉ 999, địa chỉ: số 13/5/7 Quốc lộ 91B, Khu vực Bình Phó A, phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Tại đây, Trọng hỏi mượn xe mô tô hiệu Honda Vario 150, màu xanh đen, biển số 83C1-646.84 của Nguyễn Thành L đi công chuyện, L đồng ý cho mượn xe. Sau khi mượn được xe, T chở N đi, trên đường đi T và N thống nhất với nhau tìm người đi đường có tài sản sơ hở để giật lấy tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trọng điều khiển xe chở Nhớ đến địa bàn xã Đông Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, Trọng nhìn thấy bà Võ Thị Mộng C là chủ tiệm tạp hóa Duy An, đang đứng nghe điện thoại trong tiệm, T và N thống nhất giật điện thoại của bà C và T đưa cho N bình xịt hơi cay (T đem theo từ nhà nghỉ 999 và để trong túi) rồi N đi vào tiệm hỏi mua ống quẹt gas, mục đích là lợi dụng khi bà C sơ hở để giật lấy điện thoại. Sau khi bà C bán ống quẹt gas cho N xong, bà C đi vào tiệm thì N chạy theo sau lưng dùng tay giật lấy điện thoại di động hiệu Samsung GalaxyA10 của bà Cầm đang cầm trên tay rồi chạy ra lên xe T đang chờ sẳn, Trọng chưa kịp nổ máy xe chạy đi thì bị bà C chạy ra kéo giữ xe lại và truy hô cướp, cướp nhiều lần, N lấy bình xịt hơi cay T đưa xịt vào người bà C cho bà C buông xe để T và N chạy đi nhưng bà C tiếp tục kéo giữ xe và truy hô làm xe của T bị ngã và điện thoại N giật của bà C bị rớt lại, T và N bỏ lại xe và chạy trốn. Đến ngày 13/3/2023 Trần Ngọc T bị Cơ quan cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành bắt giữ và đến ngày 19/3/2023, Cao Hoàng N cũng bị bắt giữ. Theo kết luận định giá, tài sản T và N cướp giật của bà Mộng C trị giá là 943.300đ. Hành vi của Trần Ngọc T và Cao Hoàng N là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình đã gây ra.

Hành vi của hai bị cáo gây ra, cùng với lời khai của bị cáo và lời khai của bị hại, trong hồ sơ đã được làm rõ tại phiên tòa hôm nay, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Ngọc T và Cao Hoàng N phạm tội “cướp giật tài sản” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất và mức độ, hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Tại kết luận Bản kết luận định giá tài sản: số 07/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh (đã qua sử dụng) trị giá là: 943.300đ. Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng rất xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật. Do đó, cần xử phạt nghiêm khắc, cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo răn đe đối với hai bị cáo và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt cần xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Ngọc T có nhân thân xấu, ngày 26/01/2021 bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản, hình phạt 09 tháng tù chấp hành xong hình phạt 22/7/2021. Ngày 29/11/2021, bị Công an huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người, công cụ dùng trong sinh hoạt hằng ngày nhằm mục đích gây thương tích cho người khác”, chưa đóng phạt. Bị cáo Cao Hoàng N, ngày 11/01/2021, bị xử phạt về tội Trộm cắp tài sản, hình phạt 06 tháng tù, chấp hành xong án phạt tù ngày 17/5/2022. Ngày 21/03/2023, bị Công an huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, chưa đóng phạt. Chứng tỏ bị cáo Trần Ngọc T và bị cáo Cao Hoàng N không có ý thức hối cải, bản thân là thanh niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự trong độ tuổi lao động, nhưng lười lao động muốn có tiền tiêu sài nên nảy sinh ý định cướp tài sản đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay hai bị cáo thành khẩn khai báo, chưa thể hiện sự ăn năn hối cải vì bản thân hai bị cáo từng phạm tội trộm cắp tài sản, biết được việc xâm phạm vào tài sản của người khác là bất hợp pháp, cả hai bị cáo bàn bạc thống nhất ý chí với nhau đi trên đường thấy ai sơ hở là cướp tài sản bán lấy tiền tiêu sài, như vậy bị cáo không có ý thức sửa chữa lỗi lầm của mình đã phạm phải. Trong quá trình sinh sống tại địa phương hai bị cáo cũng chưa chấp hành tốt quy định pháp luật tại địa phương. Hội đồng xét xử chỉ cho hai bị báo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Cao Hoàng Nhớ có ông nội là người có công với cách mạng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Thành đã tiến hành trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các vật chứng khác không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ.

Án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ khoản 2, Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn được tính từ ngày 14/3/2023.

Căn cứ điểm đ khoản 2, Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

2. Tuyên bố: Bị cáo Cao Hoàng N phạm tội “cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Cao Hoàng N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn được tính từ ngày 19/3/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự đã thoả thuận xong, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) chiếc dép (loại dép quay kẹp), hiệu hawainas và 02 (hai) chiếc dép (loại dép quay ngang), hiệu Givenchy. Theo phiếu nhập kho số: PNK 2023/27 Nợ: 1141 Có: 366 ngày 05/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành – Hậu Giang.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Ngọc T, bị cáo Cao Hoàng N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại ủy ban nhân dân nơi cư trú.

Cỡ chữ