- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L với bị đơn ông Vương Văn L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Vƣơng Văn L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST Ngày 24-3-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, T NH B NH DƯ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
Bà Hoàng Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 23/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982. Địa chỉ: đƣờng H, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Vƣơng Văn L, sinh năm 1970. Thƣờng trú: xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Tạm trú: khu phố Đ, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 12 năm 2023, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Thị T trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Vƣơng Văn L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2000, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai vào ngày 26/10/2000 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01 ngày 26/10/2000). Từ năm 2011, hai vợ chồng sinh sống sinh sống tại Bình Dƣơng. Thời gian đầu hạnh phúc, đến cuối năm 2011 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thƣờng xuyên xảy ra tranh cãi, ông L không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà T đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhƣng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12/2021 đến nay. Quá trình chung sống hai vợ chồng có 02 con chung gồm cháu Vƣơng Ngọc Quỳnh C, sinh ngày 02/6/2003 và cháu Vƣơng Ngọc Mai V, sinh ngày 20/4/2005. Hiện nay bà T và cháu Chi, cháu V về nhà ông bà ngoại tại địa chỉ: đƣờng H, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để sinh sống. Còn ông L ra thuê trọ và sinh sống tại địa chỉ: khu phố Đ, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Bà T làm nghề lái xe ôtô dịch vụ và kinh doanh quán cà phê nhỏ, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 25.000.000/tháng. Nay, bà T không còn tình cảm gì đối với ông L, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, đã sống ly thân, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Trong thời gian sống chung hai vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung. Nay, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Về hôn nhân: yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Vƣơng Văn L.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu đƣợc nuôi con chung cháu Vƣơng Ngọc Mai V, sinh ngày 20/4/2005, không yêu cầu ông Vƣơng Văn L phải cấp dƣỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Vương Văn L nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thƣ ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã đƣợc Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu Thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Vƣơng Văn L là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ đƣợc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. Về con chung: giao con chung cháu Vƣơng Ngọc Mai V, sinh ngày 20/4/2005 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dƣỡng, ông Vƣơng Văn L không phải cấp dƣỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: các đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Vƣơng Văn L tạm trú: khu phố Đ, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; quan hệ pháp luật là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Bị đơn ông Vƣơng Văn L đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Vƣơng Văn L.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T với bị đơn ông Vƣơng Văn L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01 ngày 26/10/2000 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà T sau khi kết hôn thời gian đầu hai vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2011 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thƣờng xuyên xảy ra tranh cãi, ông Vƣơng không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà T đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhƣng không có kết quả, hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12/2021 đến nay. Quá trình chung sống hai vợ chồng có 02 con chung gồm cháu Vƣơng Ngọc Quỳnh C, sinh ngày 02/6/2003 và cháu Vƣơng Ngọc Mai V, sinh ngày 20/4/2005. Nay, bà T không còn tình cảm gì đối với ông L, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, đã sống ly thân, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn ông Vƣơng Văn L tham gia tố tụng nhƣng ông L vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày trƣớc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông L vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông L là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, bà T yêu cầu đƣợc ly hôn với ông L là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống hai vợ chồng có 02 con chung gồm cháu Vƣơng Ngọc Quỳnh C, sinh ngày 02/6/2003 và cháu Vƣơng Ngọc Mai V, sinh ngày 20/4/2005. Đối với cháu Vƣơng Ngọc Quỳnh C đã đủ 18 tuổi nên bà T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Bà T yêu cầu đƣợc nuôi cháu Vƣơng Ngọc Mai V, sinh ngày 20/4/2005, không yêu cầu ông L phải cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu V đang sống chung với bà T, bà T có việc làm và T nhập ổn định đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dƣỡng cháu V phát triển bình thƣờng. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu V cho bà T trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Vƣơng Văn L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T đƣợc ly hôn với ông Vƣơng Văn L (Giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 26/10/2000).
- Về con chung: Giao con chung cháu Vƣơng Ngọc Mai V, sinh ngày 20/4/2005 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ông Vƣơng Văn L không phải cấp dƣỡng nuôi con.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Ngƣời không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chƣa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đƣợc khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai T tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006009 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - VKSND thành phố D (01); - Chi cục THADS thành phố D (01); - Các đƣơng sự (02); - UBND xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (01); - Lƣu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |