vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thu T. Bà Phạm Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Hùng T1. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hồng C, sinh ngày 02/10/2005 và Nguyễn Hồng L, sinh ngày 05/11/2012 cho bà T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Hùng T1 không phải cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 34/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 21/3/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa

2. Bà Lê Thị Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 529/2022/TLST- HNGĐ, ngày 29 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2023/QĐST - HNGĐ ngày 27/02/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thu T, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Số A, đường L, khóm T, phường P, thành phố X, tỉnh An Giang.

Địa chỉ liên lạc: Số B, đường B, cầu D, ấp L, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng T1, sinh năm 1981

Nơi cư trú: Số A, đường L, khóm T, phường P, thành phố X, tỉnh An Giang.

Địa chỉ liên lạc: Số E, tổ F, khóm T, phường P, thành phố X, tỉnh An Giang.

(Bà T có mặt, ông T1 vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và tại biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn là bà Phạm Thu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 tự nguyện tìm hiểu sau đó đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố X, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 311/KH.MP quyển số 02/05 vào ngày 03/11/2005. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, về sau không còn hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất hòa. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 đến nay vẫn không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông T1 hay đi nhậu và thường có lời lẽ xúc phạm bà T, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung. Bà T nhận thấy vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hồng C, sinh ngày 02/10/2005 và Nguyễn Hồng L, sinh ngày 05/11/2012. Bà T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Hùng T1 vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:

Bà Phạm Thu T vẫn giữ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Hùng T1.

Ông T1 vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án;

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến nay:

- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng nhiều lần vắng không có lý do, không tham gia các phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân của bà T và ông T1 nhưng ông T1 vẫn vắng mặt, không có ý kiến trình bày, bà T cương quyết ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã đi đến trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà T là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: có 02 con chung là có 02 con chung là Nguyễn Hồng C, sinh ngày 02/10/2005 và Nguyễn Hồng L, sinh ngày 05/11/2012. Hiện 02 con chung đang sống với bà T, các con có nguyện vọng ở cùng mẹ nên khi cha mẹ ly hôn giao 02 con chung cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thu T. Bà T được ly hôn với ông Nguyễn Hùng T1.

Về con chung: giao 02 con chung cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trợ ông T1 trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa bà Phạm Thu T với ông Nguyễn Hùng T1 là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng có ông Nguyễn Hùng Châu là cha của ông T1 nhận thay và cam kết giao lại cho ông T1, đồng thời ông T1 cũng nhận trực tiếp Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông T1 vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T1.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, về sau không còn hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất hòa, vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 đến nay vẫn không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà T nhận thấy vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Phía bị đơn được Tòa án nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng tại nơi cư trú nhưng ông T1 vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, cũng như không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của bà T. Như vậy, ông T1 đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên bà T và tạo thêm thời gian để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn vì vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 đến nay nhưng giữa vợ chồng vẫn không hàn gắn được tình cảm. Từ đó, có thể nhận thấy ông T1 không còn quan tâm đến hôn nhân của mình, mặt khác tình cảm của bà T dành cho chồng không còn, tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Bà Phạm Thu T và ông Nguyễn Hùng T1 có 02 con chung tên Nguyễn Hồng C, sinh ngày 02/10/2005 và Nguyễn Hồng L, sinh ngày 05/11/2012 hiện nay đang sống với bà T. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Mặt khác, cháu C và cháu L cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Xét thấy, cháu C và cháu L hiện nay do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó nhằm đảm bảo ổn định về tinh thần và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao cháu Nguyễn Hồng C, sinh ngày 02/10/2005 và Nguyễn Hồng L, sinh ngày 05/11/2012 cho bà T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, do bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà T và gia đình phải tạo điều kiện thuận L cho ông T1 được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này, các bên phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Bà Phạm Thu T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 177; Điều 179; khoản 1 Điều 227, Điều 228; Điều 273 và khoản 1 Điều 280; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thu T. Bà Phạm Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Hùng T1.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hồng C, sinh ngày 02/10/2005 và Nguyễn Hồng L, sinh ngày 05/11/2012 cho bà T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Hùng T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Phạm Thu T và gia đình phải tạo điều kiện thuận L cho ông Nguyễn Hùng T1 được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Việc nuôi con không cố định.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Bà Phạm Thu T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001178 ngày 29/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thu T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Ông Nguyễn Hùng T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ