vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị M. Bà Phạm Thị M được ly hôn với ông Trương Văn T.

2- Về con chung: Đã trưởng thành. 3- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị M - Trương Văn T"
  • Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị M. Bà Phạm Thị M được ly hôn với ông Trương Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 34/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 31- 5- 2023
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Hoàng Khương

2. Ông Danh Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp K 13, xã V, huyện V, tỉnh K; có mặt

- Bị đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1979; HKTT: ấp K 13, xã V, huyện V, tỉnh K. Chổ ở hiện nay: Khu phố V 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh K; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2022 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị M trình bày: Bà và ông T tổ chức lễ cưới vào năm 2012 và có đăng kí kết hôn tại UNBD xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống đầm ấm được một thời gian thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm với nhau, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất hòa hiện ông bà đã sống ly thân nhau. Bà M xét thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo đài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó bà M yêu cầu được ly hôn với ông Trương Văn T. Về con chung: có 01 người con chung tên Trương Nhựt A, sinh ngày 27/02/2003, giới tính nam, hiện con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trương Văn T vắng mặt trong các phiên hòa giải, phiên tòa sơ thẩm nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị M, căn cứ qua xác minh tình trạng hôn nhân của ông bà hiện tại đã ly thân, cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Về con chung: có 01 người con chung tên Trương Nhựt A, sinh ngày 27/02/2003, hiện con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trương Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do chính đáng. Vì vậy, căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông T tự nguyện kết hôn vào năm 2012 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Về nguyên nhân xin ly hôn theo bà M trình bày do vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến bất đồng quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn, cự cải, hiện nay ông bà đã sống ly thân với nhau. Về mâu thuẫn giữa ông bà được chính quyền địa phương xác nhận là có thật, ông bà thường xuyên mâu thuẫn, bất hòa. Xét thấy, ông bà hiện nay đã ly thân không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình được quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị M.

Về con chung: Bà M và ông T có 01 người con chung tên Trương Nhựt A, sinh ngày 27/02/2003, hiện con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về án phí xin ly hôn: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002609 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 19, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị M. Bà Phạm Thị M được ly hôn với ông Trương Văn T.

2- Về con chung: Đã trưởng thành.

3- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

4- Về án phí sơ thẩm: Bà M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002609 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

5- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ