- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Ng xin ly hôn với ông H, yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung và không cấp dưỡng."
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ng; [1] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim Ng được ly …
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08-6-2023 “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Thanh Hải; ông Nguyễn Huy Cường.
Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị An, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Neàng Sa Men - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 06 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 315/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 1989, nơi cư trú: t18, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh A;
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1985, nơi cư trú: t9, ấp V, xã N, huyện T (nay là khóm V, phường N, thị xã T), tỉnh A;
Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ng trình bày:
Bà Nguyễn Thị Kim Ng và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn vào ngày 18/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã N (nay là phường N). Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến khoảng cuối năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Từ tháng 3 năm 2022 thì bà và ông H không còn chung sống cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục cuộc sống hôn nhân nên bà Ng yêu cầu ly hôn với ông H. Về con chung: bà Nguyễn Thị Kim Ng và ông Nguyễn Văn H có 02 con chung tên Nguyễn Minh T1, sinh ngày 13/3/2013 và Nguyễn Minh T2, sinh ngày 18/01/2016. Hiện nay cháu T1 và T2 do bà Ng nuôi dưỡng, bà Ng yêu cầu được quyền nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có. * Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn H đều vắng mặt không có ý kiến, tại phiên toà hôm nay ông Nguyễn Văn H trình bày như sau: Ông Nguyễn Văn H thống nhất ý kiến của bà Ng về thời gian và điều kiện đi đến hôn nhân giữa ông với bà Ng. Cả hai có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh A theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80/KH-UB ngày 18/12/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ năm 2021, ông và bà Ng phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2022 không còn chung sống với nhau cho đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông H đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Ng. Về con chung: Trong thời gian chung sống ông H và bà Ng có 02 con chung tên Nguyễn Minh T1, sinh ngày 13/3/2013 và Nguyễn Minh T2, sinh ngày 18/01/2016. Hiện nay cháu T1 và T2 do bà Ng nuôi dưỡng, nên ông đồng ý giao 02 con chung cho bà Ng trựuc tiếp chăm sóc con chung sau khi ly hôn và ông không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có. * Cháu Nguyễn Minh T1, Nguyễn Minh T2 trình bày ý kiến: Cháu là con ruột của mẹ Nguyễn Thị Kim Ng và cha Nguyễn Văn H, hiện nay các cháu đang sống chung với mẹ, nếu cha mẹ ly hôn các cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ. * Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Ng và ông H có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không còn chung sống từ năm 2022 đến nay, nhưng cả hai không tạo cho nhau điều kiện để đoàn tụ gia đình, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng là trầm trọng. Vì vậy, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần xem xét giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: bà Ng và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Minh T1, sinh ngày 13/3/2013 và Nguyễn Minh T2, sinh ngày 18/01/2016. Các cháu T1, T2 có nguyện vọng được sống cùng mẹ là Nguyễn Thị Kim Ng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con chung của bà Nguyễn Thị Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
Về nợ chung: Không có nên không đề cập xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập: không.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án T2 hành thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn ông Nguyễn Văn H đều vắng mặt, tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ng xin vắng mặt. Do đó, không T2 hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xin vắng mặt, không có văn bản thay đổi ý kiến, bị đơn có mặt;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: bị đơn ông Nguyễn Văn H có địa chỉ cư trú tại tổ 9, ấp Voi 1, xã Núi Voi, huyện Tịnh Biên (nay là khóm Voi 1, phường Núi Voi, thị xã Tịnh Biên), tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử T2 hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, theo giấy chứng nhận kết hôn số 80/KH-UB ngày 18/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Núi Voi, huyện Tịnh Biên (nay là phường Núi Voi, thị xã Tịnh Biên) nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Xét vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng trong thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không còn chung sống với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn gia đình đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: bà Nguyễn Thị Kim Ng và ông Nguyễn Văn H có 02 con chung tên Nguyễn Minh T1, sinh ngày 13/3/2013 và Nguyễn Minh T2, sinh ngày 18/01/2016. Các cháu T1, T2 có nguyện vọng được sống chung với bà Ng sau khi cha mẹ ly hôn, nên tiếp tục giao con chung cho bà Ng nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con chung: bà Nguyễn Thị Kim Ng không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.
- Về nợ chung: Không có. [3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ng có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo luật định và án phí cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 116 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ng; [1] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim Ng được ly hôn ông Nguyễn Văn H. [2] Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung tên có 02 con chung tên Nguyễn Minh T1, sinh ngày 13/3/2013 và Nguyễn Minh T2, sinh ngày 18/01/2016 cho bà Nguyễn Thị Kim Ng được trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Về cấp dưỡng: ông Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Thị Kim Ng cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không có.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim Ng phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0008835 ngày 21/11/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tịnh Biên (nay là Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Tịnh Biên), bà Ng đã nộp xong.
Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
[6] Giấy chứng nhận kết hôn 80/KH-UB ngày 18/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay là phường N, thị xã T) không còn giá trị pháp lý.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sư; - VKSND tx.Tịnh Biên; - Chi cục THADS tx.TB; - TAND tỉnh; - UBND xã, thị trấn (nơi ĐKKH); - Lưu HS & VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ngọc Mỹ |