vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thanh T được ly hôn với anh Trần Đình L.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Đình K, sinh ngày 11/4/2013 cho chị Nguyễn Thanh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Trần Đình L có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con giữa chị Nguyễn Thanh T và anh Trần Đình L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thanh T được ly hôn với anh Trần Đình L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH T
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07-8-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH T, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Lý

Ông Lâm Quang Toản

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

- Vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh T, sinh 1998 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Anh Trần Đình L, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 08/3/2023 và tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T trình bày:

Chị và anh Trần Đình L có tổ chức tiệc cưới và ngày 01/8/2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Trong thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Do hôn nhân không hạnh phúc nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Đình L. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên Trần Đình K, sinh ngày 11/4/2013 và hiện con đang sống cùng chị, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con thành niên, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung trình bày không có và không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh Trần Đình L vắng mặt, không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn, quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Đình L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh Trần Đình L.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 72/2016, ngày 01/8/2016 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng thể hiện chị Nguyễn Thanh T và anh Trần Đình L có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân này là hợp pháp. Qua lời trình bày của nguyên đơn thấy rằng, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, luôn bất đồng ý kiến, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án thì anh L không tham gia tố tụng dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo hòa giải nhưng anh L vẫn vắng mặt và không có lời trình bày. Từ khi chị T nộp đơn khởi kiện đến nay thì anh L biết việc chị T nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, anh L vẫn không có ý kiến, yêu cầu gì, điều này cho thấy bản thân anh L cũng không mong muốn hàn gắn đoàn tụ với vợ. Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn không thể hàn gắn nên chị T và anh L đã ly thân năm 2021 đến nay, sau khi ly thân mạnh ai chỉ biết bổn phận của người đó, không còn quan tâm, lo lắng, thương yêu nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T xin ly hôn là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh L.

Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh số 189/2016, ngày 01/8/2016 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và lời trình bày của nguyên đơn chị T thể hiện, quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Trần Đình K, sinh ngày 11/4/2013, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con đủ 18 tuổi. Thấy rằng, cháu Trần Đình K đang sống với mẹ ổn định về chỗ ở và học hành, đồng thời cháu K có nguyện vọng ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn, nên chị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp nguyện vọng và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Anh Trần Đình L có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét do các đương sự không có yêu cầu.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh T là người yêu cầu xin ly hôn nên chị Nguyễn Thanh T phải chịu án phí 300.000 đồng theo quy định của pháp luật, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008123 ngày 28/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh T, chị T đã nộp đủ án phí.

Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thanh T được ly hôn với anh Trần Đình L.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Đình K, sinh ngày 11/4/2013 cho chị Nguyễn Thanh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Trần Đình L có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008123 ngày 28/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh T, chị T đã nộp đủ án phí. Anh Trần Đình L không phải nộp án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ