vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-7-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Doãn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Ngọc Thành

2. Bà Tô Thị Bảo Ánh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Vào ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2023/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023. Giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Nguyễn Huy C, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Thôn M, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Phạm Thị Bích T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có lý do (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Tam Nông, nguyên đơn anh Nguyễn Huy C trình bày :

1. Về hôn nhân:

Tôi và Phạm Thị Bích T kết hôn với nhau vào năm 2006, chúng tôi có đăng ký kết hôn theo pháp luật quy định, giấy chứng nhận kết hôn số 86 ngày 04/12/2006 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới chúng tôi sống rất hạnh phúc, đến năm 2016 thì luôn có mâu thuẫn và chúng tôi đã ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân do tính tình không còn phù hợp, luôn bất đồng quan điểm nên lúc nào cũng có mâu thuẫn với nhau. Trong thời gian sống ly thân chúng tôi không gặp nhau nên không bàn tính việc hàn gắn lại với nhau. Hôm nay tôi thấy tình cảm không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn.

- Bị đơn chị Phạm Thị Bích T trình bày:

Tôi và anh Nguyễn Huy C kết hôn với nhau vào năm 2006, chúng tôi có đăng ký kết hôn theo pháp luật quy định, giấy chứng nhận kết hôn số 86 ngày 04/12/2006 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới chúng tôi sống rất hạnh phúc, đến năm 2016 thì luôn có mâu thuẫn và chúng tôi đã ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân do tính tình không còn phù hợp, luôn bất đồng quan điểm nên lúc nào cũng có mâu thuẫn với nhau. Trong thời gian sống ly thân chúng tôi không gặp nhau nên không bàn tính việc hàn gắn lại với nhau. Hôm nay chồng tôi yêu cầu ly hôn tôi cũng đồng ý ly hôn.

2. Về con chung:

Anh C và chị T khai: Trong thời gian sống chung, chúng tôi có với nhau một đứa con tên Nguyễn Phạm Khánh V, sinh ngày 14/02/2008.

3. Về tài sản chung: Anh C và chị T trình bày: Chúng tôi không có tài sản chung.

4. Về nợ chung: Anh C và chị T trình bày: Chúng tôi không nợ ai và cũng không ai nợ lại chúng tôi {{{

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về tố tụng:

Xét yêu cầu của anh Nguyễn Huy C yêu cầu ly hôn với chị Phạm Thị Bích T địa chỉ ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp căn cứ vào các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông.

Về xét xử vắng mặt: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có lý do (có đơn xin vắng mặt) nên Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân:

Quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Huy C và chị Phạm Thị Bích T là hoàn toàn tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn theo pháp luật quy định. Sau khi cưới anh chị sống rất hạnh phúc, đến năm 2016 luôn có mâu thuẩn và anh chị đã ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian sống ly thân anh chị không tự hàn gắn lại với nhau được. Hôm nay anh C yêu cầu ly hôn với chị T do tình cảm không còn. Chị Phạm Thị Bích T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh C. Từ những căn cứ trên công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Huy C và chị Phạm Thị Bích T là phù hợp với Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về con chung:

Trong thời gian sống chung, anh chị có với nhau một đứa con tên Nguyễn Phạm Khánh V, sinh ngày 14/02/2008. Tại đơn khởi kiện của anh C đồng ý giao con cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng và chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phạm Khánh V. Tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi, cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, trong thời gian anh chị sống ly thân và hiện nay cháu V sống với chị T, cuộc sống vẫn đảm bảo về tinh thần và vật chất. Hơn nửa hiện cháu V có nguyện vọng được sống với M, sau khi Ba M1 ly hôn. Căn cứ Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình, công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con của anh Nguyễn Huy C và chị Phạm Thị Bích T là phù hợp.

Tại biên bản hoà giải ngày 30/6/2023 chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con hàng tháng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Anh Nguyễn Huy C phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55, 81,82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

1. Về hôn nhân:

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Huy C và chị Phạm Thị Bích T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Khánh V, sinh ngày 14/02/2008 cho chị Phạm Thị Bích T được tiếp tục nuôi dưỡng (Hiện cháu V đang sống với chị T). Anh Nguyễn Huy C không cấp dưỡng nuôi con hàng tháng (Do chị T không yêu cầu).

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

Cha, M1 không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. 3. Về án phí:

Anh Nguyễn Huy C phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp (do Phạm Thị Kim T1 nộp thay) theo biên lai thu tiền số 0001823, quyển số 0000037 ngày 15/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông.

Báo cho nguyên đơn, bị đơn được biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được Thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh,

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện,

- Chi cục THA dân sư huyện,

- Đương sự,

- UBND xã P,

(đã ký)

- Lưu HS.

Nguyễn Kim Doãn

Các Hội Thấm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Kim Doãn

Cỡ chữ