vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T-T"
  • Tòa quyết gì? 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 14/08/2023

HUYỆN PHÚ GIÁO Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Hào; Bà Lê Thị Phương Dung. - Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên. Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 360/2022/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Ngọc T, sinh năm 1991; địa chỉ: 19/8A, tổ 44, ấp TT, xã TTTT, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin vắng mặt. - Bị đơn: Ông Trương Minh T1, sinh năm 1993; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 19/8A, tổ 44, ấp TT, xã TTTT, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ hiện nay: Ấp 5, xã AT, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Đặng Thị Ngọc T trình bày: Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Ngọc T và ông Trương Minh T1 chung sống với nhau từ ngày 01/7/2014 tại UBND xã TTTT, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc chung sống là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống thì hạnh phúc nhưng sau đó thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay, cảm thấy tình trạng vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông Trương Minh T1.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 người con chung tên Trương Ngọc LN, sinh ngày 05/5/2015, khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Trong bản tự khai bị đơn ông Trương Minh T1 trình bày: Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Ngọc T và ông Trương Minh T1 chung sống với nhau từ ngày 01/7/2014 tại UBND xã TTTT, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc chung sống là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống thì hạnh phúc nhưng sau đó thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay, cảm thấy tình trạng vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T xin ly hôn thì ông T1 đồng ý. Về con chung: Quá trình chung sống có 01 người con chung tên Trương Ngọc LN, sinh ngày 05/5/2015, khi ly hôn ông T1 giao con chung cho bà T nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng quy định của pháp luật. HĐXX thực hiện khai mạc phiên toà, phần thủ tục, phần tranh tụng đều đảm bảo đúng pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Ngọc T và ông Trương Minh T1 chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 01/7/2014 tại UBND xã TTTT, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T, ông T1 đủ điều kiện kết hôn theo Điều 8 và có đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống nên xin được ly hôn với bị đơn, bị đơn cũng đồng ý ly hôn nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn. Về con chung: Quá trình chung sống có 01 người con chung tên Trương Ngọc LN, sinh ngày 05/5/2015, khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con, ông T1 cũng thống nhất giao con cho bà T nuôi dưỡng, tại bản ghi nhận ý kiến cháu LN cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn giao con chung cho bà T nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Bà Đặng Thị Ngọc T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Trương Minh T1, bị đơn ông T1 đang sinh sống tại địa chỉ xã AT, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; ông T1 và bà T có văn bản thỏa thuận lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo giải quyết, xét xử nên đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Ngọc T và ông Trương Minh T1 chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 01/7/2014 tại UBND xã TTTT, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T, ông T1 đủ điều kiện kết hôn theo Điều 8 và có đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống nên xin được ly hôn với bị đơn, bị đơn cũng đồng ý ly hôn nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn. [3] Về con chung: Quá trình chung sống có 01 người con chung tên Trương Ngọc LN, sinh ngày 05/5/2015, khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con, ông T1 cũng thống nhất giao con cho bà T nuôi dưỡng, tại bản ghi nhận ý kiến cháu LN cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn giao con chung cho bà T nuôi dưỡng. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét. [5] Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận. [6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; - Các Điều 51, 53, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Ngọc T đối với bị đơn ông Trương Minh T1 về việc “Ly hôn”. 2. Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Ngọc T được ly hôn với ông Trương Minh T1.

3. Về con chung: Giao con chung tên Trương Ngọc LN, sinh ngày 05/5/2015 cho bà T nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp quy định của pháp luật. 4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét. 5. Về án phí: Bà Đặng Thị Ngọc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0039950 ngày 26/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo. 6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ