vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Đoàn Thị B và ông Tạ Văn A là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Không có con chung. Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Bé - Tạ Văn An"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Đoàn Thị B và ông Tạ Văn A là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06 – 4 – 2023
V/v “Tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Ngọc Dung.

Ông Nguyễn Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ân Tình là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 266/2022/TLST–HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 về: “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2023/QĐST–HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị B, sinh năm 1995 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Tạ Văn A, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 15/12/2022 nguyên đơn bà Đoàn Thị B trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Tạ Văn A chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2016, nhưng không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, tính tình không hoà hợp. Hiện vợ chồng đã ly thân 01 năm nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Tạ Văn A.

Về nuôi con chung: Không có con chung.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Tạ Văn A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho biết việc bà B khởi kiện tại Tòa án nhưng ông A không có ý kiến gì đối với những yêu cầu của bà B và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

Tại phiên tòa: Bà B có mặt vẫn bảo lưu quan điểm. Ông A vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Đoàn Thị B khởi kiện xin ly hôn với ông Tạ Văn A, địa chỉ: ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ông Tạ Văn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông A.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Đoàn Thị B và ông Tạ Văn A chung sống với nhau vào năm 2016 nhưng đến nay không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Bà B nhận thấy cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, chung sống không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn. Đối với, ông A đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng thông báo việc bà B xin ly hôn nhưng ông A không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà Bé. Xét thấy, việc bà B và ông A chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2016 đến nay nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì bà B và ông A không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Không có con chung.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà B phải chịu 300.000 đồng. Bà B đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0021550 ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận bà Đoàn Thị B và ông Tạ Văn A là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Không có con chung.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Đoàn Thị B phải chịu 300.000 đồng. Bà Đoàn Thị B đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0021550 ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ