vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị K.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị K được ly hôn với anh Lương Văn T. Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Thị Kiều T, sinh ngày 06/02/2011 cho chị Hoàng Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiện ly hôn và tranh chấp con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/4/2023.
V/v: Kiện ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Ngọc Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân gồm có: Ông Hoàng Tuyển.

Ông Vũ Xuân Thụ.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Trường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 27/4/2023, tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 113/2023/TLST-HNGĐ ngày 04/4/2023 về việc: “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị K. Địa chỉ: Buôn K, xã S, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Anh Lương Văn T. Địa chỉ: Buôn K, xã S, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị K trình bày: Tôi và anh Lương Văn T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại UBND xã S, huyện E. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, bốn năm trở lại đây thì anh T thường xuyên uống rượu đánh đập, xúc phạm tôi và bố mẹ tôi, tôi đã khuyên can nhiều lần, anh T cũng hứa sẽ thay đổi nhưng tính nào tật nấy. Nay nhận thấy hôn nhân không thể tiếp tục nên tôi làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng tôi có một người con chung là cháu Lương Thị Kiều T, sinh ngày 06/02/2011. Hiện cháu đang ở với tôi, nguyện vọng của tôi là tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chung tôi và anh T sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lương Văn T trình bày: Tôi và cô Hoàng Thị K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại UBND xã S, huyện E. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên lời qua, tiếng lại. Nay cô K làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì tôi đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết cho chúng tôi được ly hôn.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng tôi có một người con chung là cháu Lương Thị Kiều T, sinh ngày 06/02/2011. Tôi đồng ý giao con chung cho cô K chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, chúng tôi sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình – Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị K; Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị K được ly hôn với anh Lương Văn T; Về con chung: Cần giao con chung là cháu Lương Thị Kiều T, sinh ngày 06/02/2011 cho chị Hoàng Thị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi; Về cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị K và anh Lương Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị K đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lương Văn T là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, nguyên đơn; bị đơn đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị K và anh Lương Văn T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2010 tại UBND xã S, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Qua lời trình bày của chị K thì chị và anh T thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân do do bất đồng quan điểm sống, bốn năm trở lại đây thì anh T thường xuyên uống rượu, đánh đập, xúc phạm chị, chị đã khuyên can nhiều lần, anh T cũng hứa sẽ thay đổi nhưng tính nào tật nấy. Nay chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T; Anh T thừa nhận vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Nay chị K có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh T đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa các bên không còn sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị K, cho chị K được ly hôn với anh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị K và anh T có một người con chung là cháu Lương Thị Kiều T, sinh ngày 06/02/2011. Xét thấy, chị K có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành; anh T cũng đồng ý giao các con chung cho chị K chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, cần giao các con chung là cháu Lương Thị Kiều T, sinh ngày 06/02/2011 cho chị K chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị K và anh Lương Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra để xem xét.

Anh Lương Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; nợ chung: Chị Hoàng Thị K và anh Lương Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra để xem xét.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn chị Hoàng Thị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị K.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị K được ly hôn với anh Lương Văn T.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Thị Kiều T, sinh ngày 06/02/2011 cho chị Hoàng Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị K và anh Lương Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lương Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung; nợ chung: Chị Hoàng Thị K và anh Lương Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Hoàng Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0011215 ngày 24/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ