vanban.org

Bản án 34/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Chúc L1 về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu L2.

Về hôn nhân: bà Huỳnh Chúc L1 được ly hôn với ông Nguyễn Hữu L2. Về nuôi con chung: giao cho ông Nguyễn Hữu L2 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Hữu L3, sinh ngày 22/01/2012 và Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 21/9/2013. Bà Huỳnh Chúc L1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Chúc L1 về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu L2.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21-4-2023
V/v ly hôn giữa bà L1 và ông L2

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng.

2. Ông Nguyễn Văn Út.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Chúc L1, sinh năm: 1989 (có mặt);

Địa chỉ: ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu L2, sinh năm: 1985 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp L, xã L1, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/02/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Chúc L1 trình bày:

Bà L1 và ông L2 tổ chức lễ cưới vào năm 2010, có thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L1 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 147, quyển số 01/2011, ngày 26/12/2011. Sau khi cưới, vợ chồng chỉ chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông L2 ăn chơi, rượu chè, cờ bạc, không chăm lo gia đình. Vợ chồng ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Vợ chồng đã tìm cách hàn gắn mâu thuẫn nhưng không thành. Bà L1 nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L1 yêu cầu ly hôn với ông L2.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hữu L3, sinh ngày 22/01/2012 và Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 21/9/2013. Hiện nay, 02 con đang sống chung với ông L2. Khi ly hôn, bà L1 yêu cầu ông L2 tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và bà L1 không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: bà L1 xác định bà và ông L2 không có tài sản chung và không có nợ chung.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Hữu L2. Ông L2 không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của bà L1, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thủ tục tố tụng:

Bà Huỳnh Chúc L1 khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hữu L2, ông L2 có nơi cư trú tại xã L1, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Ông Nguyễn Hữu L2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông L2.

Về nội dung tranh chấp:

Về hôn nhân: bà Huỳnh Chúc L1 và ông Nguyễn Hữu L2 có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L1 cấp giấy chứng nhận kết hôn số 147, quyển số 01/2011, ngày 26/12/2011 nên xác định hôn nhân giữa bà L1 và ông L2 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà L1 trình bày, sau khi cưới, vợ chồng chỉ chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông L2 ăn chơi, rượu chè, cờ bạc, không chăm lo gia đình. Vợ chồng ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Vợ chồng đã tìm cách hàn gắn mâu thuẫn nhưng không thành. Đối với ông L2, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L2 nhưng ông L2 không có ý kiến phản hồi và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án. Điều này chứng tỏ ông L2 không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà L1. Tại phiên tòa, bà L1 vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông L2. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L1 và ông L2 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L1 đối với ông L2.

Về nuôi con chung: bà L1 và ông L2 chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Hữu L3, sinh ngày 22/01/2012 và Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 21/9/2013. Bà L1 yêu cầu ông L2 tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lộc và cháu Dương. Ông L2 không có ý kiến phản hồi đối với vấn đề này. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Nguyễn Hữu L3 và cháu Nguyễn Thị Thùy D hiện đang sống chung với ông L2, cuộc sống đã ổn định và cả 02 cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với ông L2. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L1, giao 02 con chung cho ông L2 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Ông L2 không có yêu cầu bà L1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: bà L1 trình bày bà và ông L2 không có tài sản chung và không có nợ chung. Ông L2 không có ý kiến phản hồi về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bà L1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Chúc L1 về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu L2.

1. Về hôn nhân: bà Huỳnh Chúc L1 được ly hôn với ông Nguyễn Hữu L2.

2. Về nuôi con chung: giao cho ông Nguyễn Hữu L2 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Hữu L3, sinh ngày 22/01/2012 và Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 21/9/2013. Bà Huỳnh Chúc L1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: bà Huỳnh Chúc L1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà L1 đã nộp theo biên lai thu số 0005054 ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà L1 đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ