- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị M - Dương Văn V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Dương Thị M. Chị Dương Thị M được ly hôn với anh Dương Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST Ngày 19-9-2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Công Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Đạo
Bà Dương Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2023/TLST-HNGĐ ngày 29/6/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị M, sinh năm 1977; cư trú tại: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
- Bị đơn: Anh Dương Văn V, sinh năm 1968; Cư trú tại: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Dương Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị M và anh Dương Văn V kết hôn với nhau vào ngày 08/12/2001, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Trước khi kết hôn chị M và anh V không được tìm hiểu mà do hai bên gia đình mai mối nhưng vẫn tự nguyện đến với nhau không bị ai ép buộc và được hai gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, chị M và anh V sống với nhau bình thường được vài tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi cọ nhau do anh V thường uống rượu. Mỗi lần say, anh V lại đánh đập chị M, đã có lần gây ra thương tích cho M, chị Dương Thị M đã nhẫn nhịn bỏ qua nhiều lần và khuyên bảo anh V để cuộc sống vợ chồng ổn định nhưng không được. Chị Dương Thị M và anh Dương Văn V đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh V được nữa, chị Dương Thị M yêu cầu được ly hôn với anh Dương Văn V.
Về con chung: Có 01 người con chung tên là Dương Văn Đ, sinh ngày 11/9/2002 nay đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Về phía bị đơn, anh Dương Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng. Tòa án đã tiến hành xác minh tại thôn L và Công an xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Công an xã N cho biết anh Dương Văn V có hộ khẩu thường trú tại Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng và lập biên bản niêm yết theo quy định của pháp luật cho anh V biết. Tuy nhiên, anh Dương Văn V vẫn không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có lý do.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn anh Dương Văn V không đến Tòa án tham gia vào quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Dương Thị M đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định tại Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn chị Dương Thị M đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự như: Thực hiện quyền khởi kiện; nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình; có mặt tham gia phiên tòa sơ thẩm. Bị đơn anh Dương Văn V vắng mặt tại Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, do vậy chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị M; về con chung: Có một con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết, về sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có; về án phí: Buộc nguyên đơn Dương Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Dương Thị M khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Dương Văn V có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, Thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Dương Văn V vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần hai không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Dương Văn V là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Dương Thị M và anh Dương Văn V kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B ngày 08/12/2001 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị M và anh Dương Văn V là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh Dương Văn V thường xuyên uống rượu, đánh đập chị Dương Thị M. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống.
Tòa án đã tiến hành xác minh về quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị M và anh Dương Văn V tại thôn L, xã N được đại diện thôn cho biết: Chị M và anh V kết hôn với nhau vào năm 2001, chung sống với nhau tại thôn L, xã N, trong quá trình chung sống thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn do anh V uống rượu nên xẩy ra xô xát, cũng đã nhờ đến chính quyền thôn can thiệp hòa giải, nhưng hai người vẫn sống với nhau đến đầu năm 2023, xẩy ra mâu thuẫn trầm trọng, xô xát dẫn đến thương tích, thôn và Công an xã cũng đã đến làm việc, giải quyết mâu thuẫn và chị Múi cúng đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở cùng thôn từ đó cho đến nay.
Xác định tình trạng quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị M và anh Dương Văn V thấy rằng: anh Dương Văn V không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có ý kiến về việc chị Dương Thị M có đơn xin ly hôn với anh. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị Dương Thị M và anh Dương Văn V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Dương Thị M yêu cầu xin ly hôn với anh Dương Văn V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy cần được chấp nhận.
Về con chung: Có 01 người con chung tên là Dương Văn Đ, sinh ngày 11/9/2002 nay đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Dương Thị M trình bày là không yêu cầu tòa án giải quyết; quá trình giải quyết vụ án anh Dương Văn V vắng mặt, không có ý kiến gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
về nợ chung: Chị Dương Thị M trình bày là không có; quá trình giải quyết vụ án anh Dương Văn V vắng mặt, không có ý kiến gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Dương Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị Dương Thị M đã nộp 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0002947 ngày 29/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 85, 89, 91 của luật Hôn nhân gia định năm 2000; Điều 51, khoản 1, Điều 56 các Điều 57, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 24; điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Dương Thị M. Chị Dương Thị M được ly hôn với anh Dương Văn V.
2. Về con chung: Có 01 người con chung tên là Dương Văn Đ, sinh ngày 11/9/2002. Hiện nay, con chung đã trưởng thành, không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Chị Dương Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước. Xác nhận chị Dương Thị M đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0002947 ngày 29/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Dương Thị M có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Dương Văn V vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Bắc Sơn; - UBND xã N, huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Đức |