vanban.org

Bản án 34/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị H đối với bà Nguyễn Thị H về việc đòi nợ.

Xác nhận số nợ còn lại của bà Nguyễn Thị H đối với bà Hoàng Thị H là 460.000.000 (Bốn trăm sáu mươi triệu) đồng. Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Hoàng Thị H số tiền 460.000.000 (Bốn trăm sáu mươi triệu) đồng ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp đòi tiền nợ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị H đối với bà Nguyễn Thị H về việc đòi nợ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Người cao tuổi
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/DS-ST
Ngày 22 tháng 5 năm 2023
Về việc: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Thế V;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh T và bà Hoàng Phương L.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Tr - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2023, Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2023/TLST-DS ngày 13/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-DS ngày 10/5/2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Số nhà 143 đường Phạm Văn Đồng, TDP CĐ 4, phường XĐ, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội. (Có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953.

Địa chỉ: Phòng 803-A5, chung cư An Bình, KĐT Thành phố Giao Lưu, TDP H 20, phường CN 1, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959. Nơi thường trú: Tổ 1, phường TN, thành phố PY, tỉnh VP (Theo Giấy ủy quyền ngày 10/5/2023 tại Văn phòng công chứng Bình Minh). (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 24/02/2023 và trong các lời khai, nguyên đơn là bà Hoàng Thị H trình bày:

Bà và bà Nguyễn Thị H có quan hệ quen biết xã hội do cùng ngồi bán hàng cạnh nhau tại chợ NT. Từ khi quen nhau đến trước năm 2001, bà có cho bà H vay nhiều lần, cụ thể là cho vay vàng. Tổng cộng trong quá trình quen biết, bà H có vay của bà là 10,615 cây vàng qua nhiều lần. Trước đó mỗi lần vay nợ giữa bà và bà H không có viết giấy vay mà chỉ thỏa thuận miệng. Sau này bà H không bán hàng ở chợ NT nữa, chuyển về sống ở nhà con gái, bà không gặp được. Ngày 28/01/2001, bà và bà H có chốt công nợ và cùng viết giấy vay nợ bằng hai giấy vay do bà H tự viết và ký tên thể hiện tổng cộng dư nợ là 10,615 cây vàng. Hai bên không có thỏa thuận về thời hạn trả nợ. Sau đó, do có nhu cầu sửa nhà nên bà đã nhiều lần yêu cầu bà H trả nợ nhưng bà H khất lần. Từ năm 2020 đến năm 2022, con gái bà H là chị H có trả nợ cho thay cho bà H tổng số tiền là 100.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Mỗi lần chị H trả nợ như vậy thì bà H lại tự tra trên mạng tỷ giá tiền/vàng để trừ vào nợ gốc. Như vậy, đến nay bà H xác định bà H còn nợ 8,744 cây vàng, theo tỷ giá bà tra cứu vào thời điểm làm đơn khởi kiện tương ứng với 460.000.000đ. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà H phải trả số tiền nợ là 460.000.000đ và không yêu cầu tính lãi.

- Bị đơn là bà Nguyễn Thị H và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn thống nhất trình bày:

Bà Nguyễn Thị H có mối quan hệ quen biết, cùng làm ăn với bà Hoàng Thị H tại chợ NT. Bà H có 01 gian ki ốt bán vịt, ngan còn bà H là nguồn cung cấp ngan vịt. Trong quá trình nhập hàng của bà H thì bà H có nợ tiền hàng do việc làm ăn có nhiều khó khăn. Ngoài ra, trong quá trình quan hệ với nhau thì bà H có vay thêm của bà H 01 cây vàng. Cộng với tiền hàng là tiền ngan, vịt nợ dồn trước đó thì bà H và bà H đã chốt công nợ với nhau. Việc chốt vay nợ này hai bên thực hiện ngày 28/02/2001, bà H thừa nhận có viết và ký hai giấy vay nợ trên đối với bà H. Tổng cộng bà H vay của bà H là 10,615 cây vàng. Do bà không bán hàng ở chợ nữa, nên bà H tìm gặp, đòi tiền. Từ năm 2020 con gái bà H là chị H đã trả được một phần tiền nợ cho bà H là 100.000.000 đồng thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, bà xác nhận dư nợ còn lại đối với bà H là 8,744 cây vàng tương ứng với 460.000.000 đồng. Bà H sẽ trả cho bà H mỗi tháng 500.000đ cho đến khi thanh toán hết khoản nợ bằng tiền mặt.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị buộc bà Nguyễn Thị H phải trả nợ số tiền là 460.000.000 đồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ một lần và không yêu cầu tính lãi.

- Đại diện theo uỷ quyền của Bị đơn giữ nguyên ý kiến: Đồng ý trả nợ số tiền 460.000.000 đồng theo phương án mỗi tháng trả 500.000 đồng cho đến khi hết nợ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm nhận xét và nêu quan điểm giải quyết vụ án như sau :

- Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký Toà án chấp hành đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự. Tại phiên Toà Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đương sự trong vụ án đều chấp hành đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

- Về Nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị H.

Về án phí: Do Bị đơn là người cao tuổi và có Đơn xin miễn án phí nên theo quy định của Luật người cao tuổi và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị đơn được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án này như sau:

. Về tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, cụ thể bà Hoàng Thị H khởi kiện đòi nợ bà Nguyễn Thị H theo hai giấy vay nợ đã ký. Bị đơn là bà H hiện đang cư trú tại Phòng 803 A5 Chung cư An Bình, Khu đô thị thành phố Giao Lưu, TDP H 20, phường CN 1, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Các chứng cứ, tài liệu trong vụ án, được các đương sự thống nhất và được Toà án được sử dụng để giải quyết vụ án và những vấn đề các đương sự thống nhất thừa nhận gồm:

- Đối với 02 giấy vay nợ viết tay do bà Hoàng Thị H xuất trình thì cả hai bên bà H và bà H đều thống nhất thừa nhận đó là giấy viết tay do chính bà Nguyễn Thị H viết tay và ký tên.

- Nội dung của 02 giấy vay nợ thể hiện tổng số vàng bà H vay bà H là 10,615 cây vàng (Hai bên thống nhất xác định vàng trong giấy vay tiền là vàng ta 9999).

- Hai bên thừa nhận với nhau là con gái của bà Nguyễn Thị H là chị Nguyễn Thị Bích H đã trả thay mẹ số tiền 100.000.000 đồng cho bà H. Hiện nay, số nợ còn lại của bà H đối với bà H là 8,744 cây vàng. Hai bên tự quy đổi số vàng trên tương ứng với 460.000.000 đồng tiền mặt.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn và Bị đơn thống nhất thừa nhận giữa bà Nguyễn Thị H và bà Hoàng Thị H có quan hệ vay nợ nhiều năm. Ngày 28/01/2001, bà H và bà H thực hiện việc chốt công nợ bằng hai giấy vay do bà H tự viết và ký tên, có nội dung bà Nguyễn Thị H vay của bà Hoàng Thị H tổng cộng 10,615 cây vàng. Theo tài liệu sao kê chủ tài khoản là Hoàng Thị H của ngân hàng Viettinbank xác nhận ngày 04/5/2023 thể hiện từ ngày 07/5/2020 đến ngày 26/01/2022 chị Nguyễn thị Bích H (Là con gái bà H) chuyển tiền vào tài khoản của bà Hoàng Thị H 04 lần. Tổng số tiền của 04 lần chuyển khoản là 100.000.000 đồng.

Nay hai bên thống nhất chốt số dư nợ còn lại của bà H đối với bà H là 8,744 cây vàng tương ứng với 460.000.000 đồng và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ sẽ thanh toán bằng tiền mặt.

Căn cứ vào hai giấy vay đã ký kết giữa các bên Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao dịch dân sự về việc giữa bà H và bà H là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật. Đây là Hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn, hai bên không thỏa thuận với nhau về lãi suất. Bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với bà H, việc bà H đề nghị mỗi tháng thanh toán 500.000 đồng trả nợ không được bà H chấp nhận. Do đó, yêu cầu của bà Hoàng Thị H buộc bà Nguyễn Thị phải trả toàn bộ số nợ ngay lập tức là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Không xem xét yêu cầu khác của các đương sự.

. Về án phí:

Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, do bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi và có Đơn xin miễn án phí, nên không phải chịu án phí theo quy định của Luật người cao tuổi và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Kết luận của Đại diện VKS nhân dân quận Bắc Từ Liêm tại phiên toà phù hợp với nhận định, đánh giá của Hội đồng xét xử.

Từ những nhận định nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 147, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi ;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị H đối với bà Nguyễn Thị H về việc đòi nợ.

2. Xác nhận số nợ còn lại của bà Nguyễn Thị H đối với bà Hoàng Thị H là 460.000.000 (Bốn trăm sáu mươi triệu) đồng.

Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Hoàng Thị H số tiền 460.000.000 (Bốn trăm sáu mươi triệu) đồng ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bà Hoàng Thị H, nếu bà Nguyễn Thị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì hàng tháng bà H còn phải trả khoản tiền lãi theo mức lãi là 10% năm cho đến khi trả hết khoản tiền.

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ