vanban.org

Bản án 34/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Huế Tuyên án 06/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thành Nh, tên gọi khác: Huy, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[2]. Về hình phạt: Áp d ng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thành Nh, tên gọi khác: Huy 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Th i hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giữ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành Nhân - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thành Nh, tên gọi khác: Huy, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:
34/2022/HS-ST
Ngày: 06 - 5 - 2022
2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Thanh.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Đáng, ông Nguyễn Tiến Nam và ông Nguyễn Quang Tố.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Anh, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Bảo Tá - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 10 năm 2022, tại tr s Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số 11 đư ng Tôn Đức Thắng, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 01/2022/TLST-HS ngày 13/01/2022 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 262/2020/QĐXXST-HS ngày 22/09/2022, đối với:

Bị cáo: Lê Thành Nh (tên gọi khác: H); giới tính: Nam; sinh ngày 20/01/1989, tại tỉnh Long An; nơi ĐKHKTT: Ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Long An; nơi cư trú hiện nay: 52/5 đư ng 16A, phư ng B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; con ông Lê Văn Nh và bà Lâm Thị Ngh; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ ngày 04/12/2020, chuyển tạm giam từ ngày 10/12/2020 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Chị Hoàng Thị Thu T, sinh năm 1997; cư trú tại: 02 Kiệt 06 Tam Giang, Thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

2. Chị Trần Thị R, sinh năm 1977; cư trú tại: Tổ 4, Thôn 3, xã Hương Lộc, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lê Thị Mai Tr; cư trú tại: Ấp Ông Non, xã Tân Trung, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

2. Ông Trần Văn G; cư trú tại: A14/14, Tổ 14, Ấp 1, xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Thông qua mạng xã hội Whatsapp, Lê Thành Nh kết bạn với đối tượng tên Th (không xác định được họ tên, địa chỉ). Khoảng tháng 01/2020, Lê Thành Nh gặp “Th” tại khu vực Đầm Sen, Thành phố Hồ Chí Minh. “Th” đã rủ Nhân tham gia vào đư ng dây lừa đảo thông qua các trang mạng xã hội với tiền công là 12.000.000 đồng/tháng, Nhân đồng ý tham gia. “Th” đã đóng giả vai những ngư i đàn ông nước ngoài thành đạt, giàu có trên mạng Facebook, làm quen với những ph nữ trong nước. Sau một th i gian làm quen, trao đổi với nhau bằng hình ảnh, ứng d ng dịch tiếng nước ngoài rồi nói đã gửi quà hoặc tiền và có ngư i liên lạc để nhận. Khi ngư i bị hại tin thật, “Th” nhắn số điện thoại của ngư i bị hại để Nhân đóng vai nhân viên sân bay hoặc nhân viên chuyển tiền quốc tế thông báo cho ngư i bị hại có quà từ nước ngoài gửi tặng (đúng như thông tin ngư i bị hại có từ trước) và cần phải nộp tiền lệ phí để nhận hàng (tài khoản do Th chỉ định). Với phương thức, thủ đoạn như trên, Lê Thành Nhđã thực hiện 02 v chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Thừa Thiên Huế, c thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 9/2020, chị Hoàng Thị Thu T kết bạn với ngư i tên Philip James, làm nghề bác sỹ, trên mạng xã hội Facebook. Ngày 25/10/2020, Philip James nói đã gửi tặng chị Th 03 sợi dây chuyền, 02 túi xách, 01 đôi giày, 01 điện thoại di động và 01 xe ô tô. Ngày 29/10/2020, có ngư i ph nữ tên “Th” dùng số điện thoại 0382624454 gọi vào số điện thoại của chị Th, gới thiệu tên Phạm Thị L nhân viên công y chuyển phát nhanh quốc tế, thông báo cho chị Th có một thùng quà to do Philip Jame gửi, hiện đang sân bay Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu chị Th nộp 35.000.000 đồng lệ phí để nhận hàng. Chị Th tin thật nên chuyển 35.000.000 đồng vào tài khoản Phạm Thị L, STK 101871727783 Ngân hàng Viettin bank. Sau khi chuyển tiền xong thì L lại nói nộp tiền phạt vì trong thùng hàng có nhiều ngoại tệ, chị Th chuyển thêm 130.000.000 đồng vào tài khoản Đặng Văn Tiến, STK 34516711101 Ngân hàng TMCP Sài Gòn. Chị Th tiếp t c bị yêu cầu chuyển thêm 250.000.000 đồng tiền thuê luật sư, vệ sỹ bảo vệ hàng ra Huế. Do chị Th nghi ng nên nói sẽ vào Thành phố Hồ Chí Minh để trực tiếp nhận hàng thì ngư i tên L nói chị Th trực tiếp liên hệ với Giám đốc công ty chuyển phát nhanh sân bay, số điện thoại là 0776547982. Khi chị Th gọi đến thì Nhân đóng vai Giám đốc công ty thông báo cho chị Th biết về thông tin hàng hóa, quá trình chuyển tiền nên chị Th không nghi ng gì nữa. Ngày 30/10/2020, chị Th chuyển 150.000.000 đồng vào tài khoản Nguyễn Viết Th, STK 1015954638 Ngân hàng Viettin bank và 100.000.000 đồng vào tài khoản Phạm Thị L, STK 101871727783 Ngân hàng Viettin bank. Tổng số tiền 04 lần chuyển là 415.000.000 đồng. Chị Th sau đó liên lạc với các đối tượng trên để nhận hàng nhưng không được, biết mình đã bị lừa nên đã trình báo Cơ quan Công an.

Ngày 04/12/2020 Cơ quan điều tra kám xét khẩn cấp nơi , thu giữ và trích xuất dữ liệu Whatshapp trên điện thoại của Lê Thành Nhcó nội dung bản ch p giấy CMND, số điện thoại của chị Th.

Ngày 04/12/2020, chị Th giao nộp 04 giấy nộp tiền vào tài khoản Phạm Thị L, Đặng Văn Tiến, Nguyễn Viết Th.

Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra đến các địa phương liên quan, xác minh các tài khoản ngân hàng như sau:

- Ngày 08/11/2021 Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Thừa Thiên Huế có Công văn số 614/CV trả l i: Chủ tài khoản 101871727783 mang tên Phạm Thị L (sinh ngày 11/7/1998, trú tại: Xóm 2, xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định) m tại Ngân hàng TMCP chi nhánh Thành Đô, Hà Nội, trong tài khoản có số dư 14.323.452 đồng, đã phong tỏa. Quá trình điều tra, không xác định được L hiện đang đâu, làm gì.

- Ngày 18/12/2020, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Sài Thành có công văn số 149/CV trả l i: Chủ tài khoản 1015954638 mang tên Nguyễn Viết Th (sinh ngày 28/6/1992, HKTT: xã Phước An, huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk; chỗ : 442 Ngô Gia Tự, phư ng 4 quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh) trong tài khoản có số dư 17.585 đồng. Quá trình điều tra, không xác định được Thiên hiện đang đâu, làm gì.

- Ngày 30/11/2021, Ngân hàng TMCP Sài Gòn SCB chi nhánh Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh có công văn số 7022/CV trả l i: Chủ tài khoản 34516711101 mang tên Đặng Văn Tiến (sinh ngày 01/11/1995, trú tại: 40 Ngõ 68, đư ng Nguyễn Sỹ Sách, phư ng Hưng Phúc, tỉnh Nghệ An) trong tài khoản có số dư 131.486.891 đồng, đang phong tỏa theo Lệnh phong tỏa số 07/CSHS ngày 07/10/2020 của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Yên. Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra đến nay vẫn chưa có kết quả trả l i của Công an tỉnh Nghệ An và Công an tỉnh Phú Yên.

Vụ thứ hai: Khoảng tháng 10/2020 chị Trần Thị R kết bạn với ngư i tên Rana Ali Akbar, làm kỹ sư xây dựng cầu đư ng, trên mạng xã hội Facebook. Sau th i gian liên lạc với nhau qua ứng d ng Whatapps thì Rana Ali Akbar nói gửi quà giúp chị Rơi khắc ph c hậu quả bão l t. Ngày hôm sau, Rana Ali Akbar nói là đã gửi tiền cho chị Rơi, sẽ có ngư i của công ty chuyển tiền liên hệ làm các thủ t c nhận tiền. Ngày 08/11/2020, Lê Thành Nh sử d ng số điện thoại 0782730182 gọi vào số điện thoại của chị Rơi nói mình là nhân viên chuyển phát nhanh quốc tế, chị Rơi có gói quà từ nước ngoài gửi về, phải đóng số tiền 12.000.000 đồng vào tài khoản 100871840098 tên Phạm Thị Thu Phương - Ngân hàng Viettinbank để nhận quà. Chị Rơi tin thật nên chuyển 12.000.000 đồng. Nhân lại tiếp t c nói là trong gói hàng có nhiều Đô la Mỹ nên phải chuyển thêm tiền để đóng phạt, tiền thuê luật sư giải quyết, tiền thuê vệ sỹ bảo vệ tiền. Từ ngày 18 đến 20/11/2020, chị Rơi đã chuyển vào tài koản Phạm Thị Thu Phương 04 lần với tổng số tiền là 307.000.000 đồng. Sau đó, chị Rơi liên lạc với Nhân để nhận tiền nhưng không được, biết mình đã bị lừa nên đã trình báo Công an.

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 thẻ sim điện thoại số 0782730182 của Nhân sử d ng gọi vào số điện thoại của chị Rơi.

Trích xuất dữ liệu Whatshapp trên điện thoại di động hiệu Galaxy Grand Prime của Nhân có thông tin “Th” dùng số điện thoại +855965302742 chuyển cho Nhân với thông tin: “Trần Thị Bé, trú tại: Tổ 4, thôn 3, xã Hương Lộc, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, điện thoại số 0974028437”.

Cơ quan điều tra đã có lệnh thu giữ tư tín, điện tín, yêu cầu Công ty Mobifone cung cấp chủ sử d ng, quá trình liên lạc của số điện thoại 0782730182 và 0776547982. Do tình hình dịch bệnh nên Công ty Mobifone không xử lý, trả lại công văn cho Cơ quan điều tra.

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thông tin: Chủ tài khoản 100871840098 tên Phạm Thị Thu Phương (sinh ngày 15/4/1984, trú tại: 214/C33A đư ng Nguyễn Trãi, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) trong tài khoản có số dư 195.791 đồng. Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra đối với Phương nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả l i.

Lê Thành Nhkhai được đối tượng “Th” trả công số tiền 48.000.000 đồng (chuyển vào tài khoản chị ruột Nhân là Lê Thị Mai Trinh). Ngày 03/12/2021, Ngân hàng Sài Gòn Thương tín chi nhánh Thừa Thiên Huế xác định tài khoản 070116996241 tên Lê Thị Mai Trinh có số dư 64.000 đồng.

* Về vật chứng của v án: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ các đồ vật, tài liệu của Lê Thành Nhnhư sau:

- 01 điện thoại di động Nokia màu đen, model: RM-1190, Imei 1: 357325082716820, Imei 2: 357319088596823; được lắp 01 sim (0782730182) có số trên thẻ sim: 8401-1810-3323-9199WD (được niêm phong, bên ngoài bì thư có chữ ký của Điều tra viên Trần Đức Thành và của Lê Thành Nh);

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Grand Prime, model: SM-G531H/DS, Imei: 352957078645160; bị nứt màn hình, được lắp 01 sim (0928961528) có số trên thẻ sim: 89840509201225927261; (được niêm phong, bên ngoài bì thư có chữ ký của Điều tra viên Trần Đức Thành và của Lê Thành Nh);

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71, Imei 1: 353408117043602, Imei 2: 353409117043600; được lắp sim 1: 0939069574 và sim 2: 0384042534 (được niêm phong, bên ngoài bì thư có chữ ký của Điều tra viên Trần Đức Thành và của Lê Thành Nh);

- 01 giấy CMND số 301339226 mang tên Lê Thành Nh;

- 01 thẻ ngân hàng Sacombank số tài khoản 070116996241 tên LE THI MAI TRINH;

- 01 giấy phép lái xe số 790084237774 mang tên Lê Thành Nh, cấp ngày 20/5/2016;

- 01 giấy phép lái xe số 790084237774 mang tên Lê Thành Nh, cấp ngày 15/12/2017;

- 01 thẻ sim Mobifone, số thuê bao 782730182 (đã tháo sim); 01 thẻ sim Mobifone, số 939069574 (đã tháo sim); 01 thẻ sim Mobifone, số 0776547982 (đã tháo sim);

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy BKS: 59N2-464.87, số máy: F40E-0144147, số khung: 604DY-118951, chủ xe Trần Văn Giỏi;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng xám, BKS: 59N2-464.87;

- 01 cuốn v ô ly, phía mặt trước có ghi chữ “Siêu nhí Anh hùng” và 01 cuốn v ô ly, phía mặt trước có ghi chữ cái “A, B, C”.

Đối với số tiền còn trong tài khoản Phạm Thị L là 14.323.452 đồng, Đặng Văn Tiến là 131.486.891 đồng, hiện đang phong tỏa, Cơ quan điều tra đang tiếp t c xác minh, nếu đủ căn cứ thì sẽ áp d ng các biện pháp thu hồi tài sản để trả lại cho ngư i bị hại trong quá trình giải quyết v án.

* Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại là chị Hoàng Thị Phương Th yêu cầu Nhân bồi thư ng số tiền 415.000.000 đồng, chị Trần Thị R yêu cầu Nhân bồi thư ng số tiền 307.000.000 đồng, hiện Nhân vẫn chưa bồi thư ng.

Đối với chị Lê Thị Mai Trinh là ngư i đã giao thẻ ngân hàng cho Nhân sử d ng nhưng chị Trinh không biết Nhân dùng vào việc phạm tội nên không có cơ s xem xét xử lý hình sự với chị Trinh.

Đối với các đối tượng tên Phạm Thị L, Đặng Văn T, Nguyễn Viết Th và Phạm Thị Thu Ph, Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra cho Công an các đơn vị địa phương nơi các đối tượng trên cư trú nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Nên, Cơ quan điều tra vẫn tiếp t c điều tra, xác minh theo quy định.

Đối với đối tượng tên “Th”, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế xác định đây là đối tượng cầm đầu đư ng dây lừa đảo xuyên quốc gia nên vẫn tiếp t c tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh để truy tìm đối tượng này.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSTTH-P2 ngày 12/01/2022, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Lê Thành Nh về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng:

Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thành Nh từ 12 năm tù đến 12 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử Áp d ng các Điều 579, 580, 585, 586, và 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Lê Thành Nh phải bồi thư ng cho chị Hoàng Thị Phương Th số tiền 415.000.000 đồng, được trừ vào số tiền đang tạm giữ 130.000.000 đồng, chị Trần Thị R số tiền 307.000.000 đồng, tổng cộng là 592.000.000 đồng.

Về vật chứng của v án, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thành Nh khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không oan, không sai; đồng th i xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những ngư i tham gia tố t ng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, ngư i tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi và quyết định tố t ng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về thủ t c tố t ng:

Ngư i bào chữa cho bị cáo: Theo quy định tại các Điều 72, 75, 76 của Bộ luật Tố t ng hình sự, bị cáo thuộc đối tượng được chỉ định và cử ngư i bào chữa. Tuy nhiên, bị cáo Lê Thành Nhđã có đơn từ chối, lý do đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin được tự bào chữa, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của bị cáo.

Trong v án này, một số ngư i có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, xét thấy: Quá trình điều tra, họ đã có Bản tự khai và Biên bản lấy l i khai, nên việc xét xử vắng mặt của họ không làm ảnh hư ng đến việc giải quyết v án; Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố t ng hình sự để xét xử vắng mặt họ như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo tại phiên tòa.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thành Nh:

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thành Nhđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, l i khai của bị cáo phù hợp với l i khai của các bị hại và những ngư i tham gia tố t ng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án. Do đó, đã có đủ cơ s để kết luận:

Trong khoảng th i gian từ 29/10/2020 - 20/11/2020, tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Lê Thành Nhđã thông qua mạng xã hội, dùng thủ đoạn gian dối đưa ra những thông tin không đúng sự thật để các bị hại tin tư ng là thật và chuyển tiền cho Nhân vào các tài khoản do Nhân và đồng bọn cung cấp, hướng dẫn, c thể: Đã chiếm đoạt của chị Hoàng Thị Phương Th số tiền 415.000.000 đồng, chị Trần Thị R số tiền 307.000.000 đồng, tổng cộng là 722.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Lê Thành Nhđã trực tiếp xâm hại nghiêm trọng đến quyền s hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 04/CT-VKSTTH-P2 ngày 12/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo Lê Thành Nhlà ngư i có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gian dối, lừa đảo của mình nhằm chiếm đoạt tài sản của ngư i khác để tiêu xài cá nhân là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã vì lợi ích cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, cùng đồng bọn để thực hiện hành vi phạm tội. Chỉ trong một th i gian ngắn, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản đối với 02 ngư i với số tiền phạm tội rất lớn. Hành vi của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền s hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hư ng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một th i gian nhằm trừng trị bị cáo, răn đe, giáo d c và phòng ngừa chung.

. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo,tỏ thái độ ăn năn hối cải. Do đó, cần áp d ng cho bị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức cho đối tượng tên “Th”; toàn bộ số tiền lừa đảo bị cáo không được tiếp nhận để hư ng lợi, đã tích cực khai báo cho cơ quan điều tra giải quyết v án nên cần xem xét một phần cho bị cáo khi lượng hình, cho bị cáo hư ng thêm tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần tr lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình giải quyết v án, các bị hại là chị Hoàng Thị Phương Th yêu cầu Nhân bồi thư ng số tiền 415.000.000 đồng, cơ quan Điều tra đã thu hồi số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị Th là 130.000.000 đồng đang được thu giữ theo qui định, nay cần trả lại số tiền này cho chị Th và buộc bị cáo phải bồi thư ng tiếp số tiền còn lại là: 285.000.000 đồng.

Chị Trần Thị R yêu cầu Nhân bồi thư ng số tiền 307.000.000 đồng.

Xét thấy yêu cầu của các bị hại là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên buộc bị cáo Nhân phải bồi thư ng số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại.

Đối với đối tượng “Th” nếu sau này bắt được, bị cáo có yêu cầu sẽ được giải quyết theo qui định pháp luật.

. Về xử lý vật chứng của v án: Tuyên xử:

- Tịch thu số tiền 48.000.000 đ (Bốn mươi tám triệu đồng) của bị cáo Lê Thành Nh, (tên gọi khác: Huy) do phạm tội mà có, buộc bị cáo phải nộp lại toàn bộ số tiền này theo qui định pháp luật.

- Đối với 03 chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại di động Nokia màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Grand Prime, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71 là những phương tiện mà bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS: 59N2-464.87 chủ s hữu là ông Trần Văn Giỏi, ông Giỏi đã bán lại cho ngư i khác, sau đó được bị cáo Nhân mua lại để sử d ng chưa được sang tên theo qui định. Cần tiếp t c tạm giữ để đảm bảo thi hành án (kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô).

- Đối với thẻ ngân hàng Sacombank số tài khoản 070116996241 tên LE THI MAI TRINH các thẻ sim điện thoại là phương tiện để Nhân thực hiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 02 cuốn v ô ly là tài liệu, chứng cứ chứng minh phạm tội nên cần tiếp t c lưu giữ tại hồ sơ v án.

- Đối với giấy CMND và các giấy phép lái xe mang tên Lê Thành Nhlà giấy t tùy thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo luật định.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu trên số tiền còn phải bồi thư ng là 592.000.000 đồng = 20.000.000 đồng + (4% x 322.000.000 đồng) = 27.680.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thành Nh, tên gọi khác: Huy, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[2]. Về hình phạt: Áp d ng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thành Nh, tên gọi khác: Huy 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Th i hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giữ 04/12/2020.

[3]. Về trách nhiệm dân sự:

Áp d ng các Điều 579, 580, 585, 586, và 589 Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Lê Thành Nh, tên gọi khác: Huy phải bồi thư ng số tiền cho các bị hại, gồm: chị Hoàng Thị Phương Th số tiền 415.000.000 đồng, được trừ vào số tiền 130.000.000 đồng theo Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKS-P2 ngày 26/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và Lệnh xuất kho vật chứng số 22/LXK-CSHS ngày 28/4/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bị cáo còn phải bồi thư ng tiếp số tiếp số tiền là 285.000.000 đ (Hai trăm tám mươi lăm triệu đồng).

Buộc bị cáo Lê Thành Nh, tên gọi khác: H phải bồi thư ng cho chị Trần Thị R số tiền 307.000.000 đ (Ba trăm lẻ bảy triệu đồng).

[4]. Về xử lý vật chứng: Áp d ng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố t ng Hình sự; tuyên bố:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 48.000.000 đ (Bốn mươi tám triệu đồng) của bị cáo Lê Thành Nh, tên gọi khác: Huy do phạm tội mà có; buộc bị cáo phải nộp lại toàn bộ số tiền này theo qui định pháp luật.

- Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động Nokia màu đen, model: RM-1190, Imei 1: 357325082716820, Imei 2: 357319088596823; được lắp 01 sim (0782730182) có số trên thẻ sim: 8401-1810-3323-9199WD (được niêm phong, bên ngoài bì thư có chữ ký của Điều tra viên Trần Đức Thành và của Lê Thành Nh);

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Grand Prime, model: SM-G531H/DS, Imei: 352957078645160; bị nứt màn hình, được lắp 01 sim (0928961528) có số trên thẻ sim: 89840509201225927261; (được niêm phong, bên ngoài bì thư có chữ ký của Điều tra viên Trần Đức Thành và của Lê Thành Nh);

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71, Imei 1: 353408117043602, Imei 2: 353409117043600; được lắp sim 1: 0939069574 và sim 2: 0384042534 (được niêm phong, bên ngoài bì thư có chữ ký của Điều tra viên Trần Đức Thành và của Lê Thành Nh);

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 thẻ ngân hàng Sacombank số tài khoản 070116996241 tên LE THI MAI TRINH;

+ 01 thẻ sim Mobifone, số thuê bao 782730182 (đã tháo sim); 01 thẻ sim Mobifone, số 939069574 (đã tháo sim); 01 thẻ sim Mobifone, số 0776547982 (đã tháo sim);

- Trả lại cho bị cáo:

+ 01 giấy CMND số 301339226 mang tên Lê Thành Nh;

+ 01 giấy phép lái xe số 790084237774 mang tên Lê Thành Nh, cấp ngày 20/5/2016;

+ 01 giấy phép lái xe số 790084237774 mang tên Lê Thành Nh, cấp ngày 15/12/2017.

- Tiếp t c tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng xám, BKS: 59N2-464.87; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy BKS: 59N2-464.87, số máy: F40E-0144147, số khung: 604DY-118951, chủ xe Trần Văn Giỏi, do bị cáo mua nhưng chưa sang tên để đảm bảo thi hành án.

(Các loại vật chứng nêu trên hiện đang tạm gửi tại C c thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế, có đặc điểm theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKS-P1 ngày 20/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế và C c Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế).

- Tiếp t c lưu giữ tại hồ sơ v án: 01 cuốn v ô ly, phía mặt trước có ghi chữ “Siêu nhí Anh hùng” và 01 cuốn v ô ly, phía mặt trước có ghi chữ cái “A, B, C”.

[5]. Về án phí:

5.1. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thành Nh phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng).

5.2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thành Nh phải chịu 27.680.000 đ (Hai mươi bảy triệu sau trăm tám mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và th i gian chưa thi hành án.

Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; th i hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo, bị hại, ngư i có quyền lợi nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với ngư i vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ