vanban.org

Bản án 34/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 20/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Văn Vũ L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Văn Vũ L 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 27/6/2022. Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận với nhau và đã thực hiện xong, bị hại không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn Vũ L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 34/2022/HS-ST
Ngày: 20-7-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Dũ Quang.

Bà Phạm Thị Hương.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Kiệt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2022/QĐXXST-HS, ngày 24/6/2022 đối với bị cáo:

Võ Văn Vũ L, sinh ngày 22/8/1999 tại A-tỉnh B, Nơi cư trú: Ấp 1, xã 2, huyện 3, tỉnh 4; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn L1 (s) và bà Võ Thị Th (Ph) (s); Anh, chị em ruột có 03 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2016; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/6/2022 đến nay (Bị cáo có mặt).

Bị hại: Trương Hoài T, sinh năm 1997; (vắng mặt)

Nơi cư trú tại: Ấp A xã B, thị xã C, tỉnh D.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Chí L2, sinh năm 1993; (vắng mặt)

2. Hà Văn Tr, sinh năm 1995; (vắng mặt)

Cùng cư trú: ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Q.

Người làm chứng:

1. Lý Đồng T2, sinh năm 1987; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh D.

2. Trương Văn K, sinh năm 1963 (vắng mặt)

3. Trương Văn T3, sinh năm 1972; (vắng mặt)

Cùng cư trú: Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh D.

4. Thái Văn C, sinh năm 1975 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp 1, xã 2, thị xã C, tỉnh D.

5. Phạm Văn K1, sinh năm 1971; (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp 5, xã 6, huyện 7, tỉnh 8.

Người phiên dịch tiếng Hoa: Ông Triệu Khánh Long - Cán bộ hưu trí khóm 1, phường 1, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 29/5/2021, Trương Hoài T có tổ chức nhậu (uống rượu) tại nhà ở ấp A, xã B, thị xã C, trong tiệc nhậu gồm có: Trương Hoài T, Lý Đồng T, Thái Văn C, Nguyễn Chí L2, Võ Văn Vũ L và Thạch Văn Q. Trong lúc đang uống rượu thì L2 nói chuyện có chửi thề bị T nhắc nhở dẫn đến cự cãi giữa T và L2, L nên T đuổi L2 và L về. Trên đường về L2 và L bị số người cùng nhậu tại nhà T dùng gạch, đá ném nhưng không trúng ai, lúc này L nghĩ rằng T là người ném đá nên đã chạy về nhà mà L thuê để ở (cách nhà T một con sông nhỏ) lấy cây dao dài 19cm, cán nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng có mũi nhọn đi đến nhà Trương Hoài T đâm trúng vào cánh tay trái của T gây thương tích. Sau khi đâm T thì L bị Lý Đồng T đè xuống đất đánh, được ông Trương Văn T3 can ngăn nên sự việc kết thúc. T và L cùng được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế thị xã C. Sau khi xuất viện Trương Hoài T có đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Võ Văn Vũ L về hành vi cố ý gây thương tích.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C tiến hành trưng cầu giám định thương tích cho cả Trương Hoài T và Võ Văn Vũ L.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 267/TgT-PY ngày 28/9/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Sóc Trăng, kết luận Trương Hoài T có tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 20% thương tích do vật sắc nhọn gây nên (bút lục 139, 140).

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 140/TgT-PY ngày 01/4/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Sóc Trăng, kết luận Võ Văn Vũ L có tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04% thương tích có đặc điểm do vật tày có cạnh gây nên (bút lục 169, 170).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C tiến hành khởi tố vụ án và khởi tố bị can Võ Văn Vũ L để điều tra làm rõ. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu, Võ Văn Vũ L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đã dùng cây dao dài 19cm (cán bằng nhựa màu đen dài 9,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 9,5 cm có mũi nhọn) đâm vào cánh tay trái của Trương Hoài T gây thương tích. Riêng thương tích của Võ Văn Vũ L, L cho rằng do bị ném gạch trúng nhưng không biết ai ném, thương tích cũng nhẹ và không yêu cầu xử lý; nên không có cơ sở để cơ quan điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS-VC ngày 18/4/2022 Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu để xét xử bị cáo: Võ Văn Vũ L về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự 2015).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Sóc Trăng trong phần tranh luận đã viện dẫn điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 do bị cáo thực hiện hành vi mang tính chất côn đồ và sử dụng hung khí nguy hiểm đã gây tổn hại sức khỏe cho bị hại 20% là các tình tiết định khung hình phạt, nên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Văn Vũ L về tội “cố ý gây thương tích”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 xử phạt: bị cáo Võ Văn Vũ L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”. Ngoài ra, đại diện viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữ các đương sự về trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao dài 19cm, cán bằng nhựa màu đen dài 9,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 9,5cm; mũi dao nhọn.

- Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn Vũ L khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và trong giai đoạn điều tra bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại và được bị hại bãi nại cho bị cáo.

- Tại cơ quan điều tra, bị hại Trương Hoài T trình bày: Thống nhất với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và lời nhận tội của bị cáo; Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại đồng thời bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường là 25.000.000 đồng nên không còn yêu cầu gì khác; Về trách nhiệm hình sự: Bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái nên đã thật sự ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 91, 92, 94, 98, 100, 102, 104, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa: Bị hại, hai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng trong quá trình điều tra. Đồng thời, tại phiên tòa vị Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại cũng đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Xét thấy, sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 292; 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Văn Vũ L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh diễn lại hành vi, lời khai của bị hại cũng như các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở kết luận vào khoảng hơn 16 giờ ngày 29/5/2021 bị cáo Võ Văn Vũ L đã dùng cây dao có mũi nhọn bằng kim loại dài 19cm đâm vào cánh tay bên trái của Trương Hoài T gây tổn hại sức khỏe là 20%. Bị cáo hoàn toàn không có mâu thuẫn gì với bị hại nhưng sẵn sàng dùng cây dao nhọn bằng kim loại là hung khí nguy hiểm để đâm gây thương tích cho bị hại, rõ ràng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi một cách hung hãn, ngang ngược coi thường pháp luật là “có tính chất côn đồ” và “dùng hung khí nguy hiểm”. Theo Bộ luật hình sự năm 2015 đây là tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 và tỷ lệ thương tật đến 20% nên Cáo trạng xác định hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về sức khoẻ của con người, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Nên cần phải có một mức án tương xứng đối với bị cáo để làm gương cho người khác.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả và được bị hại làm đơn xin bãi nại cho bị cáo; bị cáo có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa xét thấy lời đề nghị của vị Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 25.000.000 đồng, bị cáo đã thực hiện xong. Bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng không đặt ra xem xét.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao dài 19cm, cán bằng nhựa màu đen dài 9,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 9,5cm; mũi dao nhọn theo phiếu nhập kho số NK 31 ngày 06/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Võ Văn Vũ L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn Vũ L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyền xử:

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Văn Vũ L 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 27/6/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận với nhau và đã thực hiện xong, bị hại không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao dài 19cm, cán bằng nhựa màu đen dài 9,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 9,5cm; mũi dao nhọn theo phiếu nhập kho số NK 31 ngày 06/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Võ Văn Vũ L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Riêng đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt; thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ