vanban.org

Bản án 34/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Gò Công, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 26/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh S - Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, t…"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GÒ CÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2022/HS-ST
Ngày: 26-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Danh Hiếu;

2. Ông Nguyễn Văn Đảnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh S, sinh ngày 04/01/1974; Nơi sinh: huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; Có vợ (đã ly hôn) và 03 con, con lớn sinh năm 1995 và nhỏ sinh năm 2012;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09 ngày 25/02/2022 và số 21 ngày 25/4/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Gò Công), có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Thị Ngân T, sinh năm 1981 (xin vắng mặt);

Nơi cư trú: Số 45/3, khu phố B, Phường N, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.

2. Bùi Phú M, sinh năm 1975 (xin vắng mặt);

Nơi cư trú: Số C9/14C, đường Dương Đình Cúc, xã K, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu năm 2021, bị cáo S lên mạng xã hội tìm kiếm và liên hệ với tài khoản alo tên Hoàng ến (không rõ họ tên địa chỉ cụ thể) đặt làm giả 01 giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT 625843, thửa số 124, tờ bản đồ số 07, diện tích 1894,2 m2, địa chỉ ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 16/10/2019; 01 sổ hộ khẩu số 596001700 do Nguyễn Thanh S đ ng tên chủ hộ và 01 giấy ch ng minh nhân dân số 311383965 mang tên Nguyễn Thanh S với giá 12.000.000 đồng, khoảng một tháng sau thì nh n được các loại giấy tờ trên từ nh ng người giao hàng khác nhau (không rõ họ tên địa chỉ) gửi đến ba lần mới nh n đầy đủ các loại giấy tờ trên, mỗi lần nh n bị cáo Sơn đều đưa tiền cho người giao hàng.

Do cần tiền trả nợ nên khoảng tháng 12 năm 2021, bị cáo S liên hệ với chị Trần Thị Ngân T để vay thế chấp 01 giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất với số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo Sơn dẫn chị Trang đến địa điểm xem đất và chị T đồng ý cho bị cáo S vay, hai bên thỏa thu n đến Văn phòng công ch ng Phú Mỹ để làm hợp đồng vay. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/12/2021 như đã thỏa thu n bị cáo S mang theo giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT 625843 cùng sổ hộ khẩu và giấy ch ng minh nhân dân đến Văn phòng công ch ng Phú Mỹ gặp chị T để làm hợp đồng. Sau khi tiếp nh n hồ sơ, ông Bùi Phú M Trưởng văn phòng Công ch ng Phú Mỹ nghi ngờ giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT 625843, sổ hộ khẩu và giấy ch ng minh nhân dân tất cả mang tên Nguyễn Thanh S là giả nên đến Công an xã LH, thị xã GC trình báo.

Tang v t thu gi :

- 01 Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT625843 mang tên Nguyễn Thanh S, sinh năm 1974, ngụ ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang.

- 01 Giấy ch ng minh nhân dân số 311383965 mang tên Nguyễn Thanh Sơn, sinh năm 1974, ngụ ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang.

- 01 Sổ hộ khẩu số 596001700 do Nguyễn Thanh S đ ng tên chủ hộ.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart đã qua sử dụng.

Theo Bản kết lu n giám định số 128/KL-KTHS-Đ2 ngày 17/02/2022 của Phòng Kỹ thu t hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang kết lu n:

- Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ký hiệu A1

+ Phôi Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT625843; người sử dụng đất, chủ sở h u nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Nguyễn Thanh S, năm sinh 1974, ch ng minh nhân dân số 311383965, địa chỉ thường trú: Ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang, số vào sổ cấp giấy ch ng nh n CS09741, cấp ngày 16/10/2019 trên đó có ch ký, ch viết họ tên Nguyễn Thanh S (ký hiệu A1) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.

+ Hình dấu tròn có nội dụng CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM - TỈNH TIỀN GIANG - SỞ TÀI NGU ÊN VÀ MÔI TRƯỜNG trên Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT625843 (ký hiệu A1) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.

+ Ch ký mang tên Võ Văn Tươi trên Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT625843 (ký hiệu A1) so với ch ký mang tên Võ Văn Tươi - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Tiền Giang trên tài liệu mẫu ký hiệu M1 không phải do cùng một người ký ra.

- Sổ hộ khẩu ký hiệu A2

+ Phôi SỔ HỘ KHẨU số 596001700, họ và tên chủ hộ: Nguyễn Thanh Sơn, nơi thường trú: Ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang trên đó có ch ký, ch viết họ tên Nguyễn Thanh S (ký hiệu A2) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.

+ Hình dấu tròn có nội dung CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG - CÔNG AN HU ỆN GÒ CÔNG trên SỔ HỘ KHẨU số 596001700 (ký hiệu A2) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.

+ Ch ký mang tên Thượng tá Lê Văn Hòn trên SỔ HỘ KHẨU số 596001700 (ký hiệu A2) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.

- Ch ng minh nhân dân ký hiệu A3

+ Phôi Giấy ch ng minh nhân dân số 311383965, họ tên Nguyễn Thanh S, sinh ngày 04/01/1974, nguyên quán: Tiền Giang, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang, cấp ngày 12/10/2012 (ký hiệu A3) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.

+ Hình dấu tròn có nội dụng CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG trên giấy Ch ng minh nhân dân số 311383965 (ký hiệu A3) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.

- Hình dấu ch ký mang tên Nguyễn H u Trí - Giám đốc Công an tỉnh Tiền Giang trên giấy Ch ng minh nhân dân số 311383965 (ký hiệu A3) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKSTXGC ngày 25/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức , theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ lu t hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội như cáo trạng và các tài liệu ch ng c khác có trong hồ sơ đã thể hiện, không có ý kiến tranh lu n bổ sung. Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công vẫn gi nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ lu t hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm đến 03 năm tính từ ngày tuyên án.

Về v t ch ng vụ án đề nghị:

- Lưu hồ sơ vụ án: 01 Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT625843 mang tên Nguyễn Thanh S, sinh năm 1974, ngụ ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang; 01 Giấy ch ng minh nhân dân số 311383965 mang tên Nguyễn Thanh S, sinh năm 1974, ngụ ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang và 01 Sổ hộ khẩu số 596001700 do Nguyễn Thanh Sơn đ ng tên chủ hộ.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi của mình. Mong Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về phụ giúp gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu, ch ng c trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Gò Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nh ng người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt nh ng người trên. Xét thấy việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn c Điều 292 của Bộ lu t Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo S khai nh n vào đầu năm 2021, bị cáo S lên mạng xã hội tìm kiếm và liên hệ với tài khoản alo tên Hoàng ến đặt làm giả 01 giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT 625843; 01 sổ hộ khẩu số 596001700 và 01 giấy ch ng minh nhân dân số 311383965 mang tên Nguyễn Thanh S với giá 12.000.000 đồng. Khoảng một tháng sau thì nh n được các loại giấy tờ trên do tài khoản alo tên Hoàng ến gửi đến ba lần từ nh ng người giao hàng khác nhau.

Đến khoảng tháng 12/2021, do cần tiền trả nợ nên bị cáo S liên hệ với chị Trần Thị Ngân T để vay thế chấp 01 giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất với số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo S dẫn chị T đến địa điểm xem đất và chị T đồng ý cho bị cáo S vay nên hai bên thỏa thu n đến Văn phòng công ch ng Phú Mỹ để làm hợp đồng vay. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/12/2021 bị cáo Sơn mang theo giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT 625843 cùng sổ hộ khẩu và giấy ch ng minh nhân dân đến Văn phòng công ch ng Phú Mỹ gặp chị T để làm hợp đồng. Sau khi tiếp nh n hồ sơ, ông Bùi Phú M Trưởng văn phòng Công ch ng Phú Mỹ nghi ngờ các giấy tờ trên là giả nên trình báo Công an.

Trên cơ sở kết lu n giám định số 128/KL-KTHS-Đ2 ngày 17/02/2022 của Phòng Kỹ thu t hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang kết lu n Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất quyền sở h u nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 625843; Sổ hộ khẩu số 596001700 do Nguyễn Thanh S đ ng tên chủ hộ và 01 giấy ch ng minh nhân dân số 311383965 mang tên Nguyễn Thanh S đều là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.

Lời khai nh n tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người liên quan, biên bản giám định, v t ch ng, cùng với các ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan ,tổ ch c". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 341 Bộ lu t hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp lu t.

Xét về tính chất, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tr t tự quản lý hành chính nhà nước, gây ảnh hưởng đến tr t tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã nhờ người làm ra Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, sổ hộ khẩu và Giấy ch ng minh nhân dân giả nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng chưa chiếm đoạt được thì bị phát hiện. Do đó, việc áp dụng hình phạt tương x ng với hành vi và h u quả do bị cáo gây ra là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý th c tôn trọng pháp lu t và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử nh n thấy bị cáo S thực hiện hành vi phạm tội chưa gây ra thiệt hại và quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thái độ của bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Bị cáo là lao động chính trong gia đình còn phải nuôi cha mẹ già được chính quyền địa phương xác nh n, Từ đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t hình sự khi lượng hình.

Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo S đã bị kết án 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản vào năm 2009 nhưng đã xóa án tích và tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo vẫn được xem là không có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự giáo dục, cải tạo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng cho bị cáo hình phạt tù có điều kiện, để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện tính khoan hồng và nhân đạo của pháp lu t. Vì v y, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ lu t hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, có đủ căn c để cho bị cáo được hưởng án treo.

Về v t ch ng, xử lý v t ch ng:

- Đối với 01 Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT625843 mang tên Nguyễn Thanh S; 01 Giấy ch ng minh nhân dân số 311383965 mang tên Nguyễn Thanh S và 01 Sổ hộ khẩu số 596001700 do Nguyễn Thanh S đ ng tên chủ hộ giả là v t ch ng để ch ng minh hành vi phạm tội của bị cáo do đó phải lưu tr trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart đã qua sử dụng bị cáo dùng để liên lạc làm giấy tờ giả, công cụ thực hiện hành vi phạm tội, có giá trị nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với tài khoản Zalo tên Hoàng ến và nh ng người đến giao giấy tờ giả do không rõ họ tên và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gò Công chưa tiến hành làm việc được là có cơ sở. Khi làm việc được nếu có căn c sẽ xử lý sau.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Chị Trần Thị Ngân T không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Từ nh ng phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nh n đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào:

- Khoản 1 Điều 341; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 47 của Bộ lu t hình sự;

- Điều 106 và Điều 136 của Bộ lu t tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

- Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh S cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thanh S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp lu t về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Thanh S cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo..

Về biện pháp tư pháp:

- Lưu hồ sơ vụ án: 01 Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT625843 mang tên Nguyễn Thanh S, sinh năm 1974, ngụ ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang; 01 Giấy ch ng minh nhân dân số 311383965 mang tên Nguyễn Thanh S, sinh năm 1974, ngụ ấp T, xã N, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang và 01 Sổ hộ khẩu số 596001700 do Nguyễn Thanh S đ ng tên chủ hộ.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart đã qua sử dụng.

Thời gian thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp lu t. Theo biên bản giao nh n v t ch ng, tài sản ngày 09 tháng 8 năm 2022 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Gò Công và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Gò Công.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh S phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự

Cỡ chữ