vanban.org

Bản án 34/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lư Hoàng N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lư Hoàng N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2021. Tịch thu và tiêu hủy: 01 áo thun màu xanh đen, một quần kaki lửng màu xanh rêu, một áo khoác dài tay màu xanh – xám - đen, một đôi dép tổ ong màu trắng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lư Hoàng N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2022/HS-ST
Ngày 09/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. bà Nguyễn Thị Minh Thư;

2. Ông Bùi Văn Chiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Trần Vi Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 6 năm 2022 tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Lư Hoàng N; sinh ngày 11/3/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 119/16A đường Ph, Phường 4, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 7/134 đường Liên Khu 5 -6, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá (học vấn): 1/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lư Văn L và bà Phạm Thị Minh H (chết); tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 09/3/2010 TAND Quận 11 xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" (Bản án số 27/2010/HSST); ngày 23/02/2017 TAND quận Bình Tân áp dụng biện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng (Quyết định số 101/2017/QĐ-TA); bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/10/2021; có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Ngọc E, sinh năm 1954; địa chỉ: 161D/106/54 đường Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Lư Thanh K, sinh năm 1989; địa chỉ: 119/16A đường Phó Cơ Điều, Phường 4, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt;

2. Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn HD SaiSon; địa chỉ: 24C đường Phan Đăng Lưu, Phường 6, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp: Ông Đàng Thanh Phương – Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 26/01/2022); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 30 phút, ngày 20/10/2021, Lư Hoàng N điều khiển xe máy kiểu dáng Vario, màu vàng đen, biển số: 59M2 - 439.71, lưu thông trên nhiều tuyến đường tìm người có tài sản sở hở để chiếm đoạt. Đến 12 giờ 10 phút cùng ngày, N phát hiện bà Nguyễn Ngọc E, sinh năm: 1954, đang đứng trước nhà số 161D/106/54 Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng nên N liền điều khiển xe chạy vòng lại, áp sát phía sau lưng bà E và dùng tay trái giật sợi dây chuyền của bà Em rồi tăng ga bỏ chạy về hướng Cầu Mé tẩu thoát. Sau đó, bà E đến Công an Phường 3, Quận 11 tố giác tội phạm. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, phát hiện xe Vario, biển số 59M2-439.71 do N đứng tên chủ sở hữu và liên hệ gia đình N vận động N ra đầu thú. Ngày 22/10/2021, Lư Hoàng N đến Công an Phường 3, Quận 11 đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra, Lư Hoàng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Sau khi chiếm đoạt được sợi dây chuyền của bà Em, N tăng ga bỏ chạy về hướng Cầu Mé tẩu thoát. Trong lúc chạy, N bỏ sợi dây chuyền mới giật được vào hộc xe bên trái phía trước. Khi N chạy ra đến đường Kênh Tân Hóa thì N phát hiện sợi đây chuyền vừa giật được để ở hộc xe bên trái phía trước bị rơi mất, N quay xe lại tìm nhưng không tìm được nên N bỏ đi.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, tiến hành cho Lư Hoàng N xác định địa điểm đánh rơi sợi dây chuyền cướp giật được của bà Em là tại đoạn đường từ ngã ba Kênh Tân Hóa-Lê Quát đến số 15 Lê Quát, phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú. Qua rà soát không phát hiện được sợi dây chuyền của bà Em. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của N tại 7/134 đường Liên Khu 5-6, phường B, quận B không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tiến hành cho Lư Hoàng N quan sát dữ liệu hình ảnh trên camera ghi nhận được, N xác định người thực hiện hành vi cướp giật dây chuyền trên camera chính là N.

Tiến hành cho bà E nhận dạng, bà Em xác định được Lư Hoàng N là người cướp giật dây chuyền của bà E vào trưa ngày 20/10/2021.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 94/KL-HĐĐGTS ngày 08 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 11 xác định: 01 sợi dây chuyền vàng 18K, dạng mắt xích đã qua sử dụng, tổng trọng lượng của sợi dây chuyền là 4 chỉ, tại thời điểm ngày 20/10/2021, trị giá sợi dây chuyền là 12.250.000 đồng.

Bản cáo trạng số 18/CT-VKSQ11 ngày 14 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Lư Hoàng N tội danh “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo N có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị: Mức hình phạt đối với bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 áo thun màu xanh đen, một quần kaki lửng màu xanh rêu, một áo khoác dài tay màu xanh – xám - đen, một đôi dép tổ ong màu trắng;

- Giao một xe máy hiệu Honda Vario màu vàng – đen, biển số 59M2-439.71 cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD Saison (Công ty Saison) để tiến hành phát mãi bán đấu giá để thu hồi số tiền mà Công ty đã cho bị cáo N vay, sau khi thu hồi xong nợ vay và trừ các chi phí, số tiền còn lại (nếu có) thì nộp lại cho Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Bà Lư Thanh K trình bày: Xe máy hiệu Honda Vario màu vàng – đen, biển số 59M2-439.71 do bà Kiều cho tiền để bị cáo N mua xe và hàng tháng bà đều đưa tiền để N trả góp cho Công ty Saison. Bà đồng ý để bị cáo N đứng tên sở hữu để tiện việc đi lại. Do còn nợ tiền của Công ty Saison, bà đồng ý giao xe trên cho Công ty Saison để xử lý theo quy định.

Đại diện theo ủy quyền của Công ty Saison, ông Đàng Thanh Phương trình bày: Xe máy hiệu Honda Vario màu vàng – đen, biển số 59M2-439.71 do bị cáo N mua bằng tiền vay trả góp của Công ty Saison. Số tiền bị cáo N mua xe còn nợ Công ty Saison là 21.613.513 đồng. Bị cáo N đã sử dụng xe trên để làm phương tiện phạm tội. Nay Công ty Saison đề nghị nhận lại chiếc xe trên để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của bị cáo N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

Vào lúc 12 giờ 10 phút ngày 20/10/2021, tại trước nhà số 161D/106/54 Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lư Hoàng N đã sử dụng xe mô tô biển số 59M2 - 439.71, làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật 01 sợi dây chuyền vàng 18K , trị giá là: 12.250.000 đồng của bà Nguyễn Ngọc E rồi bỏ chạy.

Bị cáo bằng thủ đoạn công khai, nhanh chóng, bất ngờ chiếm đoạt tài sản của người khác rồi tẩu thoát. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, theo quy định của pháp luật thì hành vi dùng mô tô, xe máy để thực hiện việc cướp giật tài sản là tình tiết “dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo dùng phương tiện mô tô, xe máy cướp giật tài sản của người đi đường không chỉ làm mất an ninh, trật tự công cộng, gây thiệt hại về tài sản mà còn có thể gây ra tai nạn cho người bị hại, những người tham gia giao thông. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- 01 sợi dây chuyền vàng 18K của bà Nguyễn Ngọc E bị Lư Hoàng N chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 không thu hồi được. Bà Nguyễn Ngọc E đã được gia đình bị cáo N bồi thường giá trị sợi dây chuyền nên bà không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

- 01 áo thun màu xanh đen, một quần kaki lửng màu xanh rêu, một áo khoác màu xanh-xám-đen, một đôi dép tổ ong màu trắng là trang phục bị cáo N sử dụng để thực hiện hành vi cướp giật tài sản; tài sản trên không còn giá trị sử dụng và bị cáo N không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu và tiêu hủy;

- 01 (một) USB chứa dữ liệu Camera ghi nhận hình ảnh Lư Hoàng N thực hiện hành vi phạm tội đã lưu hồ sơ vụ án;

- 01 xe máy hiệu Honda Vario màu vàng - đen, biển số: 59M2-439.71, số khung: 411XKK783139; số máy: KF41E1785912, đây là phương tiện Lư Hoàng N sử dụng để cướp giật tài sản. Theo Kết luận giám định số 6637/KLGĐ-X(Đ4) ngày 23/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định số khung, số máy của chiếc xe trên không thay đổi. Qua xác minh, xe mô tô trên, do bị cáo Lư Hoàng N, là chủ sở hữu.

Bị cáo N khai chiếc xe trên là của Lư Thanh K, sinh năm: 1989, địa chỉ: 119/16A Phó Cơ Điều, Phường 6, Quận 11 (chị ruột của bị cáo N) mua trả góp khoảng cuối năm 2019 tại cửa hàng xe máy Quang Phương số 132C, Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 5, với giá 64.500.000 đồng, trả trước 15.000.000 đồng và cho bị cáo N đứng tên sở hữu. Bị cáo N là người trực tiếp ký kết các hợp đồng vay tiền trả góp số tiền 49.500.000 đồng (chưa lãi) với Công ty Saison. Hàng tháng bà K là người đưa cho bị cáo N số tiền 3.355.000 đồng để bị cáo N đi đóng tiền trả góp chiếc xe trên. Bà K đã đưa tiền cho bị cáo N trả góp được từ tháng 12/2019 đến hết tháng 5/2021 (18 tháng) và còn nợ lại 06 tháng chưa trả góp.

Bà K cũng trình bày như N và không biết bị cáo N sử dụng xe trên để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Giữa bà K và N không có giấy tờ gì chứng minh việc bà K đưa tiền cho N.

Cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc với cửa hàng xe máy Quang Phương, số 132C, Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 5, được biết: cuối năm 2019, Lư Hoàng N mua trả góp chiếc xe Honda Vario màu vàng-đen, biển số: 59M2-439.71, với giá 64.500.000 đồng, đã trả trước 15.000.000 đồng, số còn lại 49.500.000 đồng, N đã ký hợp đồng vay vốn với Công ty SaiSon và phía Công ty SaiSon đã thanh toán số tiền 49.500.000 đồng cho cửa hàng xe máy Quang Phương, cửa hàng xe máy Quang Phương đã làm thủ tục ra Giấy đăng ký xe và giao cho Công ty tài chính lưu giữ, hiện tại cửa hàng Quang Phương không còn trách nhiệm liên quan đến chiếc xe trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc với Công ty SaiSon, có trụ sở 24C Phan Đăng Lưu, Phường 6, quận Bình Thạnh, được biết: vào cuối năm 2019, Lư Hoàng N có ký hợp đồng vay vốn với Công ty Saison số tiền 49.500.000 đồng để mua chiếc xe máy Honda Vario màu vàng-đen, biển số: 59M2-439.71. Theo đó số tiền mà N phải trả góp cho Công ty là 3.354.955 đồng/tháng, kể từ ngày 25/12/2019 đến ngày 25/11/2021. N đã thanh toán được cho Công ty 18 tháng (từ 12/2019 đến hết tháng 5/2021). N còn nợ lại Công ty 06 tháng chưa thanh toán (từ 06/2021 đến tháng 11/2021). N còn nợ lại Công ty SaiSon số tiền là 21.613.513 đồng.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: Công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, chiếc xe trên bị cáo N đã thế chấp cho Công ty Saison để vay tiền mua xe. Theo quy định tại Điều 14 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc Hội thì: “...xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm hoàn trả vật chứng trong vụ án hình sự là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo đề nghị của bên nhận bảo đảm là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu.”. Vì vậy, việc Công ty Saison và bà Kiều đề nghị giao chiếc xe Honda Vario màu vàng-đen, biển số: 59M2-439.71 cho Công ty Saison để phát mãi đấu giá lấy tiền thanh toán cho khoản vay mua xe của bị cáo N là có cở sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, giao xe máy hiệu Honda Vario màu vàng – đen, biển số 59M2-439.71 cho Công ty Saison để tiến hành phát mãi bán đấu giá để thu hồi số tiền mà Công ty đã cho bị cáo N vay, sau khi thu hồi xong nợ vay và trừ các chi phí, số tiền còn lại (nếu có) thì nộp lại cho Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 50; điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Tuyên bố bị cáo Lư Hoàng N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lư Hoàng N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2021.

Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 áo thun màu xanh đen, một quần kaki lửng màu xanh rêu, một áo khoác dài tay màu xanh – xám - đen, một đôi dép tổ ong màu trắng;

- Giao một xe máy hiệu Honda Vario màu vàng – đen, biển số 59M2-439.71 cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD Saison tiến hành phát mãi bán đấu giá để thu hồi số tiền mà Công ty trách nhiệm hữu hạn HD SaiSon đã cho bị cáo N vay đề mua xe nhưng chưa trả hết. Sau khi thu hồi xong nợ vay và trừ đi các chi phí cho việc lưu trữ, bảo quản, tổ chức đấu giá, số tiền còn lại (nếu có) thì Công ty trách nhiệm hữu hạn HD Saison nộp lại cho Cơ quan thi hành Quận 11 để tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 116/LNK-ĐCSHS ngày 27/10/2021).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ