vanban.org

Bản án 34/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng Tuyên án 20/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú đối với bị cáo Vũ Khắc Q đến thời điểm bị cáo Vũ Khắc Q đi chấp hành án phạt tù.

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo có đơn yêu cầu về khoản tiền được thi hành án, nếu bị cáo Vũ Khắc Q chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành án, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Khắc Q - Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người - không phạm tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn…"
  • Tòa quyết gì? Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú đối với bị cáo Vũ Khắc Q đến thời điểm bị cáo Vũ Khắc Q đi chấp hành án phạt tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2022/HS-ST
Ngày 20-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Duy Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Ông Đào Quốc Việt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Viết Hoàn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:

Vũ Khắc Q, sinh ngày 29 tháng 5 năm 1995, tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn TĐ, xã A, huyện Q, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Khắc B và bà Phạm Thị L; bị cáo có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại Bản án số 207/2015/HSST ngày 09-12-2015 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 03 tháng 04 ngày tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo được trả tự do tại phiên tòa, thi hành xong nghĩa vụ thi hành án dân sự ngày 25-01-2016 (đã được xóa án tích), ngày 16-02-2022 bị Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Đánh bạc; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16 tháng 11 năm 2022, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1- Uỷ ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Cảnh – Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Duy Thức – Phó Trưởng phòng tài chính kế hoạch huyện Vĩnh Bảo, vắng mặt.

2- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997; trú tại: Thôn TĐ, xã A, huyện Q, tỉnh T, có mặt.

3- Chị Phạm Thị L1, sinh năm 1985; trú tại: Thôn C6, xã C7, huyện V6, thành phố H6, vắng mặt.

4- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; trú tại: Thôn C6, xã C7, huyện V6, thành phố H6, vắng mặt.

5- Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1984; trú tại: Thôn C6, xã C7, huyện V6, thành phố H6, vắng mặt.

6- Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1987; trú tại: Thôn 3, xã L6, huyện V6, thành phố H6, vắng mặt.

7- Cháu Nguyễn Thuỳ L2, sinh năm 2007; trú tại: Thôn 3, xã L6, huyện V6, thành phố H6, vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Linh: Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1983; trú tại: Khu tái định cư xã Tiến Thành, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, vắng mặt.

8- Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1978; trú tại: Ấp Tiến Bình, xã Tiến Thành, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, vắng mặt.

9- Ông Phạm Công V, sinh năm 1968; trú tại: Thôn 4, xã Hoà Bình, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

10- Cháu Trịnh Xuân B1, sinh năm 2005; trú tại: Thôn 2, xã Hoà Bình, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Bắc: Anh Trịnh Xuân N2, sinh năm 1976; trú tại: Thôn 2, xã Hoà Bình, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, có mặt.

11- Chị Đăng Thu H2, sinh năm 1997; trú tại: Thôn 4, xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

12- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1940; trú tại: Thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

13- Bà Hoàng Thị M3, sinh năm 1954; trú tại: Thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

14- Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1987; trú tại: Thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

15- Cháu Phạm Trung H4, sinh năm 2007; trú tại: Số 2/40 phố Phụng Pháp, phường Đằng Giang, Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Hiếu: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1981; trú tại: Số 2/40 phố Phụng Pháp, phường Đằng Giang, Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Đoàn Văn L4, anh Vũ Thành Ph, anh Phạm Ch, ông Đỗ Đức C5, chị Vũ Thị X đều vắng mặt; anh Hà Tiến N5 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30-5-2021, bị cáo Vũ Khắc Q mua của ông Đoàn Văn L4, sinh năm 1966 ở thôn 5, An Quý, xã Cộng Hiền, Vĩnh Bảo, Hải Phòng là Giám đốc Công ty TNHH TM và XD Đoàn Trung Đức, có trụ sở tại xã Thanh Lương, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng 01 chiếc xe ô tô khách mang biển số 15B-036.84 với giá 490.000.000 đồng. Bị cáo Quyền mới thanh toán được 440.000.000 đồng còn nợ lại ông Lưu 50.000.000 đồng. Cùng ngày ông Lưu đã giao chiếc xe ô tô cho bị cáo Quyền, việc mua bán xe ô tô có hợp đồng mua bán và hóa đơn của Công ty. Hai bên có thỏa thuận sau 03 ngày khi bị cáo Quyền thanh toán nốt số tiền còn thiếu thì sẽ sang tên đổi chủ phương tiện. Tuy nhiên Quyền chưa thanh toán số tiền nợ theo đúng hẹn nên ông Lưu chưa làm thủ tục sang tên phương tiện cho Quyền. Tại thời điểm bán và giao xe ông Lưu đã thu lại phù hiệu của chiếc xe khách trên. Khi giao xe, ông Lưu để lại 01 bảng điện tử có điện sáng Nhà xe Trung Đức treo đằng trước giáp kính xe, 02 số điện thoại dán trên thân dọc xe, 01 bảng giá chạy tuyến Hải Phòng - Sài Gòn dán ở cửa lên xuống bên phụ xe, Quyền vẫn sử dụng chạy trên tuyến này nhưng không mua tuyến, phù hiệu của xe. Sau khi có xe ô tô, bị cáo Quyền đã cho xe chạy theo tuyến Thái Bình - thành phố Hồ Chí Minh và thuê 02 lái xe là Phạm Ch, sinh năm 1982 ở thôn Trung Châu Tây, xã An Cầu, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình và Hà Tiến N5, sinh năm 1974 ở xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, Thái Bình với giá 2.500.000 đồng/01 chuyến; thuê 02 phụ xe là Vũ Thành Ph, sinh năm 1996, ở xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương và Đỗ Đức C5, sinh năm 1967 ở xã An Quý, Quỳnh Phụ, Thái Bình với giá 1.000.000 đồng/01 chuyến. Xe không đăng ký tuyến chạy cố định nào do đó Quyền cho đỗ xe tại xã An Cầu chỗ ở của lái xe Phạm Ch và khi vào thành phố Hồ Chí Minh xe đỗ tại cây Dầu Z11, thuộc phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Xe không vào bến đỗ và bến dừng theo quy định vì theo bị cáo Quyền như vậy sẽ đỡ mất chi phí tiền bến cũng như không đăng ký tuyến thì không được vào bến. Quyền cho xe chạy từ ngày 31-5-2021 theo tuyến Thái Bình - thành Phố Hồ Chí Minh tuy nhiên nếu có khách và hàng phải trả tại Vĩnh Bảo và trong nội thành Hải Phòng bị cáo Quyền vẫn cho xe di chuyển sang để trả khách, trả hàng, cụ thể: Vào đêm ngày 14-6-2021, xe có chở 03 cháu bé từ thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về trả tại nhà ông Đoàn Văn L4 ở xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng bao gồm: Nguyễn Thùy Linh, sinh năm 2007, Nguyễn Thành Danh, sinh năm 2013 và Nguyễn Trường Giang, sinh năm 2014 đều ở thôn 3, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo. Ngày 18-6-2021, xe có chở 02 người nam giới từ Hố Nai 1, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về trả tại chân cầu Nghìn thuộc địa phận huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng bao gồm: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974, Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1984 đều ở Thôn C6, xã C7, huyện V6, thành phố H6. Quá trình trên, Phạm Ch là lái xe còn Vũ Thành Ph, Đỗ Đức C5 là phụ xe đi cùng bị cáo Vũ Khắc Q. Riêng Hà Tiến N5 khi đi đến địa phận huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xuống xe về nhà, không tham gia đi cùng Quyền vận tải hành khách, hàng hóa đến Hải Phòng vào các ngày trên. Trong 02 lần chở khách nêu trên vào địa phận huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, bị cáo Vũ Khắc Q đã không dừng xe ô tô để cho những hành khách trên xe xuống khai báo y tế tại chốt kiểm dịch covid 19 Cầu Nghìn huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng dẫn đến những người khách trên xe xuống địa phận huyện Vĩnh Bảo không được cách ly theo quy định làm lây lan dịch bệnh trên địa bàn huyện với 14 ca dương tính như sau:

- Những người dương tính với covid 19 liên quan đến chuyến xe ngày 14-6-2021 gồm:

1. Nguyễn Thùy Linh, sinh năm 2007 ở Thôn 3, xã L6, huyện V6, thành phố H6.

2. Nguyễn Thành Danh, sinh năm 2013 ở Thôn 3, xã L6, huyện V6, thành phố H6.

- Những người dương tính lây từ Nguyễn Thùy Linh, Nguyễn Thành Danh gồm:

1. Nguyễn Thị Th, sinh năm 1987 ở Thôn 3, xã L6, huyện V6, thành phố H6.

2. Trịnh Xuân B1, sinh năm 2005 ở thôn 2, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

3. Hoàng Thị M3, sinh năm 1954 ở Thôn 3, xã L6, huyện V6, thành phố H6.

4. Đặng Thu Huyền , sinh năm 1997 ở thôn 4, xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

5. Phạm Công V, sinh năm 1968 ở thôn 4, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

6. Phạm Trung H4, sinh năm 2007 ở số 02/40 phố Phụng Pháp, phường Đằng Giang, Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

7. Nguyễn Thị O, sinh năm 1981 ở số 02/40 phố Phụng Pháp, phường Đằng Giang, Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

8. Nguyễn Văn T3 , sinh năm 1940 ở Thôn 3, xã L6, huyện V6, thành phố H6.

9. Phạm Trường An, sinh năm 2018 ở Thôn 3, xã L6, huyện V6, thành phố H6.

- Những người dương tính với covid 19 liên quan đến chuyến xe ngày 18-6-2021 gồm:

1. Nguyễn Văn T1 , sinh năm 1974 ở Thôn C6, xã C7, huyện V6, thành phố H6.

2. Phan Thị Luyến, sinh năm 1985 ở Thôn C6, xã C7, huyện V6, thành phố H6 (lây từ chồng là anh Nguyễn Văn T1 nêu trên)

3. Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1984 ở Thôn C6, xã C7, huyện V6, thành phố H6.

Theo Thông báo số 1413/SGTVT-QLVT ngày 31/5/2021 của Sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng thể hiện: “Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố về việc thực hiện một số biện pháp khẩn cấp phòng, chống dịch covid-19 trên địa bàn thành phố. Sở giao thông vận tải thông báo như sau: 1. Đối với hoạt động vận tải hành khách: Tạm dừng toàn bộ hoạt động của các tuyến vận tải hành khách theo tuyến cố định từ Hải Phòng đi thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại”.

Tại bản kết luận định giá số 44/HĐĐG ngày 13/10/2021 của Hội đồng định giá trong Tố tụng Hình sự huyện Vĩnh Bảo đã kết luận về thiệt hại trong vụ án như sau: “Thiệt hại phát sinh trong công tác phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo từ ngày 25/6/2021 đến ngày 15/7/2021 là 450.050.000 đồng. Trong đó: Phát sinh chi phí phòng chống dịch (cung cấp thực phẩm thiết yếu phục vụ nhân dân trong khu cách ly) tại các xã Hòa Bình, Lý Học đối với ca bệnh Nguyễn Thùy Linh và Nguyễn Thành Danh trú tại thôn 3, Lý Học, Vĩnh Bảo: 197.190.000 đồng). Phát sinh chi phí phòng chống dịch (cung cấp thực phẩm thiết yếu phục vụ nhân dân trong khu cách ly) tại xã Cộng Hiền đối với ca bệnh Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn Đ1, Phan Thị Luyến trú tại thôn Cống Hiền, xã Cộng Hiền: 140.805.000 đồng. Phát sinh chi phí phòng chống dịch (vận chuyển lương thực, thực phẩm thiết yếu phục vụ nhân dân trong khu cách ly; chi tiền ăn cho cán bộ phòng chống dịch, thuê xe vận chuyển trang thiết bị phòng chống dịch, chi tiền xăng xe đưa, đón người đi cách ly, vận chuyển mẫu ra các đơn vị xét nghiệm trong thành phố theo quy định) tại các xã Hòa Bình, Lý Học, Cộng Hiền là 112.055.000 đồng. Nội dung phát sinh chi phí này không có căn cứ, tài liệu để tách riêng theo từng xã”.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như trên.

Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 13 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố bị cáo Vũ Khắc Q về tội “Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Khắc Q 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người”, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Quyền phải tiếp tục bồi thường cho Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo số tiền 440.050.000 đồng; về xử lý vật chứng căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại bị cáo Quyền và chị Nguyễn Thị N 01 xe ô tô; về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 21.602.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, khung hình phạt: Lời khai của bị cáo Vũ Khắc Q tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, tang vật vụ án đã thu giữ thể hiện nội dung: Vào các ngày 14-6-2021, 18-6-2021, bị cáo Vũ Khắc Q là người quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ vận tải đã thực hiện việc vận tải hành khách bằng xe ô tô khách, mang biển số 15B-036.84 từ thành phố Hồ Chí Minh đi Hải Phòng đã không chấp hành quy định tại Thông báo số 1413/SGTVT-QLVT ngày 31-5-2021 của Sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng dẫn đến vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại 450.050.000 đồng do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh. Nên hành vi của bị cáo Vũ Khắc Q đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Vũ Khắc Q đã xâm phạm đến an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên cũng cần xem xét đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân đối với bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện việc kinh doanh vận tải vào hai ngày 14-6-2021, 18-6-2021. Mỗi lần đều gây thiệt hại trên 100.000.000 đồng do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục một phần thiệt hại; bị cáo có thời gian tham gia quân đội, có bố đẻ là ông Vũ Khắc B là thương binh hạng 4/4, được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen, huân chương. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Quyền, tại Bản án số 207/2015/HS-ST ngày 09-12-2015 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình bị xử phạt 03 tháng 04 ngày tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 143 BLHS năm 1999, được trả tự do tại phiên tòa, thi hành xong nghĩa vụ thi hành án dân sự vào ngày 25-01-2016 (đã được xóa án tích); ngày 16-02-2022 bị Công an thành phố Thái Bình khởi tố về tội Đánh bạc. Nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy việc đề nghị áp dụng các điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo Vũ Khắc Q như Kiểm sát viên đã viện dẫn và đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, đủ tính giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Vũ Khắc Q là lao động tự do. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Quyền theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Thiệt hại của Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo cho chi phí phòng chống dịch bệnh là số tiền 450.050.000 đồng. Quá trình điều tra bị cáo Vũ Khắc Q đã nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả. Hiện Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo yêu cầu bị cáo Quyền phải bồi thường tiếp số tiền 440.050.000 đồng, việc yêu cầu này là có căn cứ phù hợp Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự nên cần chấp nhận.

Về việc xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe ô tô khách nhãn hiệu THACO HYUNDAI màu đỏ, vàng, có số khung RNHB40SAKAC071907, số máy D6BA200726. Hiện chiếc xe này được đăng ký mang tên Vũ Khắc Q xét đây là tài sản chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân với vợ bị cáo Quyền là chị Nguyễn Thị N, chiếc xe này có niên hạn sử dụng, nên căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo Quyền và chị Ninh, theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án; bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Khắc Q 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú đối với bị cáo Vũ Khắc Q đến thời điểm bị cáo Vũ Khắc Q đi chấp hành án phạt tù.

2. Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Vũ Khắc Q phải tiếp tục bồi thường cho Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo số tiền 440.050.000đ (bốn trăm bốn mươi triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo có đơn yêu cầu về khoản tiền được thi hành án, nếu bị cáo Vũ Khắc Q chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành án, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo Vũ Khắc Q và chị Nguyễn Thị N 01 chiếc xe ô tô khách nhãn hiệu THACO HYUNDAI màu đỏ, vàng, có số khung RNHB40SAKAC071907, số máy D6BA200726.

Trả số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) từ tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cho Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng có đặc điểm theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 17 tháng 5 năm 2022).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Khắc Q phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 21.602.000đ (hai mươi mốt triệu sáu trăm linh hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo Vũ Khắc Q; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Về quyền yêu cầu thi hành: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ