vanban.org

Bản án 34/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 19/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2022/HS-ST
Ngày 19 – 7 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bé Hai

2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H, sinh năm 1998 tại huyện TB, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp TL, xã TL1, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Ngọc L;

Tiền sự: Có 01 tiền sự. Ngày 28/4/2021, bị Công an xã TL1 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0020742/QĐ-XPHC với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép.

Tiền án: Tại Bản án số 38/2019/HS-ST ngày 26/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xử phạt bị cáo 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong ngày 08/5/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/6/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Bình - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1/ Ông Trần Văn K, sinh năm 1962 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp MT2, xã MTT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp MT1, xã MTT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1971 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp TL, xã TL1, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

Hiện đang tạm trú: khóm B, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long

2/ Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp TN, xã TL1, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

3/ Anh Phạm Văn Bé H2, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp MT, xã MTT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

4/ Chị Phạm Thị Mỹ H1, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Nơi cư trú: đường TĐT, Khóm X, Phường Y, thành phố BL, tỉnh Bạc Liêu.

- Người làm chứng: Ông Phan Văn H3, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp MT2, xã MTT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 04/12/2021, Nguyễn Minh H đến nhà anh Phạm Văn Bé H2 để chơi. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày H mượn xe mô tô biển kiểm soát 94K1-875.73 của gia đình anh Bé H2 để đưa bạn của H về nhà. Trên đường chở bạn về nhà thì H nhìn thấy cái máy dầu D6 của ông Trần Văn K, sinh năm 1962, thuộc ấp MT2, xã MTT, huyện TB để ở trên bờ kênh không có ai trông coi nên H nảy sinh ý định lấy trộm máy dầu D6 về bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi chở bạn về thì H điều khiển xe mô tô về nhà H lấy 02 chìa khóa bằng kim loại bỏ vào trong túi đựng áo mưa màu xanh có sẵn trong cốp xe mô tô rồi đi ra bờ kênh. H lấy 02 chìa khóa tháo đầu máy dầu ra khỏi láp máy. H khiêng đầu máy dầu để lên xe mô tô chở về nhà của H cất giấu. Đến khoảng 11 giờ 50 phút ngày 05/12/2021, H nhờ mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Ngọc L bán cho bà Lê Thị Đ được số tiền 200.000 đồng. H lấy tiền tiêu xài cá nhân hết.

Tại kết luận định giá tài sản số 61/KL.ĐGTS ngày 30/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tam Bình kết luận: Một máy dầu D6, hiệu Dieselengine R175, mua khoảng 03 năm, giá trị sử dụng còn khoảng 50%, có giá bình quân thị trường 600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá: 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng).

Qua xác minh về nhân thân của Nguyễn Minh H có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích nên ngày 19/01/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TB ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Minh H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra xác định được Nguyễn Minh H còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 18/01/2022 tại ấp MT1, xã MTT, huyện TB. Cụ thể như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 18/01/2022 Nguyễn Minh H gặp và rủ đối tượng tên T1 (không rõ họ, chữ lót, tuổi và địa chỉ cụ thể) chạy xe loại Dream màu đen, không rõ biển số, do T1 điều khiển để đi chơi. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày cả hai chạy đến đường Tỉnh lộ 904 rồi chạy vào đường đal thuộc ấp MT1, xã MTT, huyện TB thì H phát hiện nhà ông Nguyễn Văn T có 02 cái lồng đang nhốt 02 con chim cu đất treo bên hông nhà nhưng không có ai trông coi. H nảy sinh ý định và rủ T1 lấy trộm thì T1 đồng ý. H mở hàng rào lưới B40 đi vào bên trong nhà ông T lén lút lấy trộm 02 cái lồng có nhốt 02 con chim cu đất rồi ra xe cho T1 chở đi. T1 điều khiển xe chở H đem 02 cái lồng có nhốt 02 con chim cu đất đến gửi tại phòng trọ của anh Cơ (không rõ họ, chữ lót, tuổi và nơi thường trú cụ thể) tại khóm B, thị trấn TB, huyện TB. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày ông T về nhà phát hiện bị mất tài sản nên trình báo với Công an. Qua điều tra thì Nguyễn Minh H đã thừa nhận hành vi trộm cắp trên và tự nguyện giao nộp tài sản đã lấy trộm.

Tại kết luận định giá tài sản số 03/KL.ĐGTS ngày 04/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tam Bình kết luận:

- 01 con chim (loại cu đất gáy), màu nâu, chân đỏ, má đen, lông cổ màu trắng đen (nổi cườm), lông đuôi dài màu trắng: 1.500.000 đồng.

- 01 con chim (loại cu đất gáy), màu nâu, chân đỏ, má đen, lông cổ màu trắng đen (nổi cườm), lông đuôi ngắn màu xám: 1.500.000 đồng.

- 01 lồng chim bằng gỗ, dạng tròn, đường kính đáy 40cm, độ cao 30cm: 500.000 đồng.

- 01 lồng chim bằng kim loại, dạng tròn, đường kính đáy 30cm, độ cao 25cm: 60.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá: 3.560.000 đồng (Ba triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng).

Ngày 10/3/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội: Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xử lý vật chứng:

- 01 máy dầu D6; 01 xe mô tô biển kiểm soát 94K1-875.73; 01 túi vải màu xanh (túi đựng áo mưa) bên trong có 03 tua vít lục giác, 01 hộp quẹt ga màu trắng, 01 cây búa có cán bằng gỗ, 01 bản sao đơn xin xem xét do bà Nguyễn Thị H2 làm đơn; 02 con chim cu đất; 01 lồng chim bằng gỗ; 01 lồng chim bằng kim loại. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu nhận xong.

- 02 chìa khoá bằng kim loại mà bị cáo dùng mở lấy trộm máy dầu D6 thì bị cáo đã bỏ mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn K và ông Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không có yêu cầu bồi thường gì đối với bị cáo. Bà Lê Thị Đ không có yêu cầu bồi thường gì đối với bị cáo.

Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKSTB ngày 07/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Minh H thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.

Đối với bà Nguyễn Thị Ngọc L là mẹ của bị cáo có nhận bán máy dầu D6 dùm bị cáo và bà Lê Thị Đ là người mua máy dầu D6 nhưng bà L và bà Đ không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình không đề cặp xử lý là có cơ sở.

Đối với đối tượng tên T1 là người cùng thực hiện hành vi lấy trộm 02 lồng chim bên trong có 02 con chim cu đất và đối tượng tên Cơ là người cho bị cáo H gửi 02 lồng chim bên trong có 02 con chim cu đất, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản xong và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết. Bà Lê Thị Đ không có yêu cầu bồi thường gì đối với bị cáo nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 23 giờ ngày 04/12/2021, tại ấp MT2, xã MTT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn Minh H là người đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích đã có hành vi lấy trộm 01 máy dầu D6 của ông Trần Văn K có giá trị là 600.000 đồng nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngoài ra khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/01/2022, tại ấp MT1, xã MTT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn Minh H cùng đối tượng tên T1 (không rõ họ, chữ lót, tuổi và địa chỉ cụ thể) có hành láy trộm 02 cái lồng có nhốt 02 con chim cu đất có giá trị 3.560.000 đồng của ông Nguyễn Văn T nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là thanh niên có sức khỏe lại không chịu chí thú làm ăn. Bị cáo với thái độ thích thụ hưởng, lười lao động để có tiền phục vụ tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, bị Tòa án xét xử 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không sửa đổi, tiếp tục đi trộm cắp tài sản. Do đó, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã thực hiện phạm tội tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại nhận lại tài sản xong, các bị hại và bà Đ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 01 (Một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại nhận lại tài sản xong, các bị hại và bà Đ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ