vanban.org

Bản án 34/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 14/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Kh - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2022/HS-ST
Ngày: 14/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Lệ

Ông Nguyễn Văn Ri.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kỷ– Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Y Van- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước.

Bà Phạm Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh.

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 15/4/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXXST-HS ngày 01/6/2022 đối với các bị cáo:

1.1 Trần Minh Kh, sinh ngày 07 tháng 12 năm 1987, tại tỉnh Đồng Nai; tên gọi khác: Tý; Nơi cư trú: Ấp 7, xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Hùng, sinh năm (không rõ) và bà Phan Thị Nụ, sinh năm (không rõ); vợ Phạm Thị Lệ Huyền, sinh năm 1988 bị cáo có 03 người con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2019;

Tiền án: không; Tiền sự: không

Bị bắt tạm giam từ từ ngày 05 tháng 8 năm 2021 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Kh: Luật sư Vương Quốc Quỳnh, Văn phòng luật sự Quốc Vương -Đoàn luật sư tỉnh Bình Phước.

1.2 Bạch Trọng V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1968, tại Thừa Thiên Huế; tên gọi khác: không; Nơi đăng ký HKTT: Ấp 5C, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nơi cư trú: Ấp 5B, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: chạy xe ôm; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Trọng Sách (đã chết) và bà Trương Thị Chín, sinh năm (không rõ); vợ Hoàng Thị Bòn ( Hoàng Thị Phương), sinh năm 1961 bị cáo có 05 người con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: không; Tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam từ từ ngày 05 tháng 8 năm 2021 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1.Võ Thị Mỹ Hương, sinh năm 2002 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Phước Đức, xã Phước Đông, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

2. Phạm Thanh Việt, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Suối Ông Đình, xã Trà Vong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

3. Đoàn Minh Hiếu, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tân Trung A, xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

4. Võ Văn Khải, sinh năm 1998 ( vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Trại Bí, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

5. Mai Hải Đăng, sinh năm 2003 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

6. Phạm Công Hậu, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Cẩm Long, xã Cẩm Giang, huyện huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

7. Nguyễn Thị Thơm, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 5B, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 08/7/2021 một người phụ nữ tên là Ba có gọi điện thoại cho Kh đưa 03 người Việt Nam từ khu vực nghĩa trang xã Lộc Hiệp, đến Công ty Việt Thành sẽ có người đón và tiếp tục đưa những người này xuất cảnh trái phép sang Campuchia, Kh được trả tiền công mỗi người 400.000 đồng. Kh đồng ý và gọi điện thoại cho Bạch Trọng V là người chạy xe ôm đồng thời Kh hướng dẫn cho V biết nơi đón khách và địa điểm đến với giá mỗi người 100.000 đồng.

V đồng ý và gọi Nguyễn Thị Thơm đi cùng. V điều khiển xe mô tô 93F1-468.48 từ nhà thuộc ấp 5B, xã Lộc Tấn đến khu vực ấp Hiệp Quyết, xã Lộc Hiệp thì thấy có 01 xe ô tô màu trắng dừng trên lề đường (hướng từ xã Lộc Tấn đến xã Lộc Hiệp), trên xe có Võ Thị Mỹ Hương, sinh năm 2002, HKTT: ấp Phước Đức, Phước Đông, Gò Dầu, Tây Ninh; Phạm Thanh Việt, sinh năm 1997, HKTT: ấp Suối ông Đình, xã Trà Vong, Tân Biên, Tây Ninh; Đoàn Minh Hiếu, sinh năm 1997, HKTT: Tân Trung A, Tân Hưng, Tân Châu, Tây Ninh. V chở Việt và Hiếu đi trước, Nguyễn Thị Thơm điều khiển xe môtô hiệu Wave RSX chở Hương đi sau. V chở Việt và Hiếu đến khu vực nhà hoang gần đường tuần tra biên giới thuộc ấp 7, xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh thì để Việt và Hiếu ở nhà hoang rồi điều khiển xe về nhà. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi Việt và Hiếu đang ở nhà hoang thì bị Công an xã Lộc Hòa phối hợp với Đồn biên phòng CKQT Hoa Lư kiểm tra hành chính, đưa về trụ sở làm việc. Sau khi biết Việt và Hiếu bị Công an xã mời về làm việc thì Trần Minh Kh đã đến Công an xã Lộc Hòa đầu thú.

Quá trình kiểm tra hành chính, Việt nhắn tin thông báo với Hương về việc bị bắt giữ nên Hương nói Nguyễn Thị Thơm cho Hương xuống xe và điện thoại cho Bạch Trọng V thuê V chở lên nhà nghỉ Tuyết Sơn, trả cho V 100.000 đồng. Sau khi chở Hương đến nhà nghỉ Tuyết Sơn thì V đến Công an xã Lộc Hòa để đầu thú.

Quá trình điều tra xác định do có nhu cầu tìm việc làm, Võ Thị Mỹ Hương và Phạm Thanh Việt liên lạc trao đổi với một đối tượng nữ giới chưa rõ lai lịch sử dụng tài khoản Zalo tên “Lvy Ny Ny” và sử dụng số điện thoại của nước Campuchia và Lào (+855978274005, +855965246818, +8562091034638) về việc tổ chức cho Hương và Việt xuất cảnh trái phép sang Campuchia làm việc cho Lvy Ny Ny với mức lương từ 16-20 triệu/tháng với chi phí cho việc xuất cảnh là từ 1000USD-1500USD/người (số tiền này sẽ được trừ dần vào lương sau khi Hương và Việt qua Campuchia làm việc cho Lvy Ny Ny). Việt, Hương đồng ý rủ thêm Võ Văn Khải và Đoàn Minh Hiếu đi cùng, Khải rủ thêm 03 người bạn của Khải là Phạm Công Hậu, Mai Hải Đăng và Nguyễn Hoàng Nam đi cùng.

Trưa ngày 07/7/2021, sáu người (Việt, Khải, Hiếu, Nam, Hậu, Đăng) được Lvy Ny Ny sắp xếp 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA FORTUNER, màu bạc mang biển kiểm soát 70A-167.60 đón, chở từ khách sạn Hoàng Sơn, thành phố Tây Ninh (riêng Hương được xe ôtô này đón trên đường đi) đến phòng khám đa khoa Sài Gòn Medic tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương để xét nghiệm Covid 19 và tại đây được một đối tượng chưa rõ lai lịch lái xe ô tô nhãn hiệu CHERVOLET AVEO màu trắng, biển kiểm soát 51G-366.82 sắp xếp cho nghỉ qua đêm tại một nhà nghỉ không rõ tên, địa chỉ. Đến sáng ngày 08/7/2021, bốn người (Nam, Hậu, Khải, Đăng) được đối tượng sử dụng xe ô tô biển kiểm soát 51G-366.82 chở đi theo tuyến đường QL13 đến nhà nghỉ Tuyết Sơn thuộc ấp Hiệp Hoàn, xã Lộc Hiệp, Lộc Ninh thuê hai phòng (phòng số 17 và 18) cho bốn người nghỉ tại đây. Sau đó, xe ô tô này quay về chở 03 người còn lại (Việt, Hiếu, Hương) từ nhà nghỉ tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đến đoạn đường ĐT759B thuộc ấp Hiệp Quyết, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh (gần nghĩa trang xã Lộc Hiệp) thì được V và Thơm đón và chở đến khu vực Công ty Việt Thành theo chỉ dẫn của Kh. Tại đây lực lượng chức năng phát hiện và lập biên bản kiểm tra hành chính đối với Phạm Thanh Việt, Đoàn Minh Hiếu. Tiếp tục kiểm tra tại nhà nghỉ Tuyết Sơn thuộc ấp Hiệp Thành, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh phát hiện và lập biên bản kiểm tra hành chính đối với Phạm Công Hậu, Mai Hải Đăng, Nguyễn Hoàng Nam, Võ Văn Khải, Võ Thị Mỹ Hương.

Quá trình điều tra, Trần Minh Kh và Bạch Trọng V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKSBP-P1, ngày 14/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố Trần Minh Kh và Bạch Trọng V về tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”, theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Minh Kh và Bạch Trọng V phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép ”

Áp dụng khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1,2 Điều 51, 17,58 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Minh Kh từ 18 đến 21 tháng tù

Xử phạt Bạch Trọng V 12 đến 15 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo Kh bào chữa:

Tại phiên tòa, bị cáo Kh đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo, do tình hình dịch bệnh không tìm được việc làm, bị cáo mới học xong lớp 01, trình độ nhận thức về pháp luật hạn chế, bản thân và gia đình sinh sống ở vùng biên giới. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, ngày 24/02/2021 Kh có cung cấp tin báo cho Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Hoa Lư về việc có một số người chuẩn bị xuất cảnh trái phép. Từ nguồn tin báo trên Đồn Biên phòng đã ngăn chặn kịp thời được 05 đối tượng là người Trung Quốc chuẩn bị xuất cảnh trái phép đề nghị hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s,t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo bằng với thời gian tạm giam.

Bị cáo Kh thống nhất với nội dung bào chữa của Luật sư Quỳnh và không trình bày bổ sung gì khác.

Bị cáo V không tranh luận, không kêu oan và đồng ý với nội dung bản luận tội của đại diện viên kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Thời gian bị tạm giam, các bị cáo đã rất hối hận, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc Tế Hoa Lư, Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở khách quan để kết luận:

Khoảng 18 giờ 30 ngày 08/7/2021, Trần Minh Kh gọi điện thoại cho Bạch Trọng V thuê chở 03 người khách từ nghĩa trang Lộc Hiệp đến khu vực gần đường tuần tra biên giới sau đó Kh giao người cho phía người phụ nữ tên Ba để tiếp tục đưa sang Campuchia.

Mỗi người, Kh trả cho V 100.000 đồng. Do có 03 người nên V gọi Nguyễn Thị Thơm đi cùng chở 01 người. Khi V chở Việt và Hiếu đến một cái chòi của người đồng bào và nói vào bên trong đợi, ngay lúc đó lực lượng Bộ đội Biên phòng cửa khẩu quốc tế Hoa Lư đã kiểm tra hành chính, qua làm việc Hiếu và Việt khai nhận đang trên đường đi qua Cam phu chia để tìm việc làm.

Qua tác điều tra, xác minh, Đồn Biên phòng cửa khẩu quôc tế Hoa Lư phối hợp với Công an huyện Lộc Ninh xác định được Trần Minh Kh cùng với Bạch Trọng V có hành vi tổ chức cho người xuất cảnh trái phép nên đã triệu tập làm việc. Biết được sự việc đã bại lộ, các bị cáo đã đến đầu thú và khai nhận toàn bộ sự việc.

Các bị cáo nhận thức được hành vi đưa người đến khu vực biên giới với mục đích để xuất cảnh trái phép sang Camphuchia là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Động cơ mục đích phạm tội của các bị cáo là vì lợi nhuận bị cáo Kh nhận lời đưa người từ Lộc Hiệp đến khu vực sát biên giới được trả công mỗi người 400.000 đồng, sau đó bị cáo thuê V mỗi lần chở người đến khu vực biên giới được trả tiền công từ 100.000đ đến 150.000 đồng/ người.

Quá trình điều tra, Kh và V còn khai nhận trước đó khoảng 4 đến 5 ngày Kh có nhận lời của người phụ nữ tên Ba qua điện thoại đưa 03 người nam giới từ Lộc Hiệp đến khu vực biên giới và đã được nhận tiền công 1.200.000đ, sau đó thuê V chở và trả tiền công cho V tổng cộng 500.000 đồng. Tuy nhiên ngoài lời khai của Kh và V, thì không có tài liệu gì khác để chứng minh cho hành vi nói trên.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Minh Kh, Bạch Trọng V về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép ” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, xâm phạm đến hoạt động bình thường đúng đắn của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội làm giảm hiệu quả và hiệu lực quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh. Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, nhất là trong lúc cả nước đang ra sức phòng chống dịch bệnh Covid 19. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần có một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo đều là những người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Đây là vụ án đồng phạm có tình chất giản đơn, khi có người tên Ba gọi cho bị cáo Kh đi đón người thì Kh không trực tiếp đi đó mà gọi cho V đi đón và Kh trả tiền công cho V. Cho thấy vai trò của Kh là người trực tiếp giao dịch qua điện thoại với người tên Ba, số tiền được thụ hưởng Kh cũng nhiều hơn V. còn V làm nghề chạy xe ôm khi Kh gọi thì có trách nhiệm chở người đến nơi theo yêu cầu của Kh. Do vậy, vai trò của Kh cao hơn V nên Kh phải chịu hình phạt cao hơn V.

Xét về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã đầu thú. Quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Kh vào ngày 24/02/2021 có cung cấp tin báo cho Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Hoa Lư về việc có một số người chuẩn xuất cảnh trái phép. Từ nguồn tin báo trên Đồn Biên phòng đã ngăn chặn kịp thời được 05 đối tượng là người Trung Quốc chuẩn bị xuất cảnh trái phép. Bị cáo Kh và bị cáo V đều có trình độ học vấn thấp, V không biết chữ nên nhận thức pháp luật kém, trong trường hợp phạm tội này chưa nhận được tiền công.

Các bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Kh và V như trong bản luận tội là phù hợp với tích chất mức độ phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu của người bào chữa cho bị cáo Kh xử phạt bị cáo mức án bằng với thời gian tạm giam là không phù hợp nên không được chấp nhận.

Đối với Nguyễn Thị Thơm tuy có tham gia chở Võ Thị Mỹ Hương từ khu vực nghĩa trang Lộc Hiệp đi đến khu vực biên giới nhưng trên đường đi để cho Hương xuống xe vì Hương biết Việt và Hiếu bị phát hiện, tuy nhiên khi V gọi Thơm đi cùng để chở phụ người, V không nói cho Thơm biết việc tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép nên Cơ quan an ninh Điều tra Công an tỉnh Bình Phước không có căn cứ xử lý.

- Đối với Võ Thị Mỹ Hương, Phạm Thanh Việt, Đoàn Minh Hiếu, Võ Văn Khải, Phạm Công Hậu, Mai Hải Đăng và Nguyễn Hoàng Nam chưa từng bị xử phạt hành chính đối với hành vi xuất cảnh trái phép. Do đó, Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh Bình Phước có Công văn số 576/ANĐT ngày 05/11/2021 đề nghị Đồn Biên phòng của khẩu quốc tế Hoa Lư xem xét xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực xuất nhập cảnh theo quy định đối với bảy người có tên nêu trên.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 (một) thẻ CCCD số 072097002098 mang tên Đoàn Minh Hiếu; 01 (một) giấy CMND số 291124477 mang tên Phạm Công Hậu; 01 (một) thẻ CCCD số 072097000431 mang tên Phạm Thanh Việt; 01 (một) thẻ CCCD số 072098001597 mang tên Võ Văn Khải là giấy tờ cá nhân của Hiếu, Hậu, Việt, Khải. Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh Bình Phước đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại cho Hiếu, Hậu, Việt, Khải.

- Đối với 01 (một) giấy CCCD bản photo số 072302003405 mang tên Võ Thị Mỹ Hương; 01 (một) thẻ CCCD số 072202007217 mang tên Nguyễn Hoàng Nam; 01 (một) thẻ CCCD số 072203005987 mang tên Mai Hải Đăng là giấy tờ cá nhân của Hương, Nam và Đăng không liên quan đến vụ án cần trả lại.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell M529i gắn theo sim điện thoại số 0865096190 của Nguyễn Thị Thơm là tài sản cá nhân của Thơm cần trả lại cho Thơm.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max gắn theo sim điện thoại số 0395362921 của Phạm Thanh Việt; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn theo sim điện thoại số 0812780348 của Đoàn Minh Hiếu; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 của Võ Thị Mỹ Hương; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus của Võ Văn Khải; 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO của Phạm Công Hậu; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A95 của Nguyễn Hoàng Nam; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F9 của Mai Hải Đăng cần trả lại cho chủ sở hữu.

- 01 (một) giấy CMND số 285830599 mang tên Bạch Trọng V là giấy tờ cá nhân của V cần trả lại cho V.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO RENO3 có gắn sim số 0777404639 của bị can Trần Minh Kh; 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA BLADE mang biển kiểm soát 93F1-468.48 có số khung: RLHJA3655KY031429; số máy JA36e0804726; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 031339 tên chủ xe Bạch Trọng V và 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell M529i màu đen gắn theo sim điện thoại số 0394694134 của bị can Bạch Trọng V là vật chứng sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 (một) đĩa CD chứa 01 tập tin dung lượng 154KB, được khởi tạo lúc 11 giờ 18 phút ngày 19/6/2021 được chuyển đối thành “+855978274005-210619117.mp3” dung lượng 1.02Mb, thời lượng 53 giây ghi lại đoạn hội thoại giữa 02 người phụ nữ trích xuất từ điện thoại di động OPPO RENO3 và sim số điện thoại 0777404639 của bị can Trần Minh Kh cần lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Minh Kh và Bạch Trọng V phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép ”

2.Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1,khoản 2 Điều 51, Điều 17,58 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Minh Kh 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian tính tù tính từ ngày 05 tháng 8 năm 2021.

Xử phạt bị cáo Bạch Trọng V 01 (một) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày 05 tháng 8 năm 2021.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Minh Kh và Bạch Trọng V 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

3. Về vật chứngvụ án:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Trả cho Võ Thị Mỹ Hương 01 (một) giấy CCCD bản photo số 072302003405 mang tên; Nguyễn Hoàng Nam 01 (một) thẻ CCCD số 072202007217; Mai Hải Đăng 01 (một) thẻ CCCD số 072203005987; Bạch Trọng V 01 (một) giấy CMND số 285830599.

-Trả cho Nguyễn Thị Thơm 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell M529i gắn theo sim điện thoại số 0865096190; Phạm Thanh Việt 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max gắn theo sim điện thoại số 0395362921 ; Đoàn Minh Hiếu 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn theo sim điện thoại số 0812780348 ; Võ Thị Mỹ Hương 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6; Võ Văn Khải 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus ; Phạm Công Hậu 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO; Nguyễn Hoàng Nam 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A95 ; Mai Hải Đăng 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F9.

- Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO RENO3 có gắn sim số 0777404639; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 93F1-468.48 nhãn hiệu HONDA số loại BLADE JA365, màu sơn: Đỏ đen, số khung: RLHJA3653KY031429; số máy JA36E0804726; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell M529i màu đen gắn theo sim điện thoại số 0394694134.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 031339 tên chủ xe Bạch Trọng V.

- Đối với 01 (một) đĩa CD chứa 01 tập tin dung lượng 154KB, được khởi tạo lúc 11 giờ 18 phút ngày 19/6/2021 được chuyển đối thành “+855978274005-210619117.mp3” dung lượng 1.02Mb, thời lượng 53 giây ghi lại đoạn hội thoại giữa 02 người phụ nữ trích xuất từ điện thoại di động OPPO RENO3 và sim số điện thoại 0777404639 của bị can Trần Minh Kh cần lưu theo hồ sơ vụ án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0006905 ngày 22/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ñònh veà mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Minh Kh và Bạch Trọng V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, thời gian kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niên yết theo quy định. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ