- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HS - ST Ngày: 25-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Huỳnh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hòa
2. Bà Trần Thị Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Minh Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2022/TLHS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST – HS, ngày 10 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
H và t n: Nguyễn Văn B, sinh năm 1997; Nơi cư trú: khóm 5, thị trấn C, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp: Không; Trình độ h c vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Thạch Thanh H, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; có 02 người em ruột lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2001; bị cáo có vợ Trần Thị Thu X, sinh năm 2002 (không có đăng ký kết hôn); có một người con tên Trần Ng c Kh, sinh năm 2018; Tiền án 02 tiền án: Ngày 17/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt tù có thời hạn 01 năm 06 tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (chưa được xóa án tích) và ngày 24/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt tù có thời hạn 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (chưa chấp hành hình phạt); tiền sự: có 02 tiền sự: Ngày 16/02/2021 Công an huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa đóng phạt) và ngày 30/4/2021 Công an huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa đóng phạt); Bị cáo Nguyễn Văn B bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 29/4/2021 cho đến nay có mặt tại phi n tòa.
- Bị hại: Nguyễn Văn L, sinh năm 1993
Nơi cư trú: khóm 8, thị trấn C, huyện C, tỉnh T.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1979
Nơi cư trú: khóm 6, thị trấn C, huyện C, tỉnh T.
+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965
Nơi cư trú: khóm 5, thị trấn C, huyện C, tỉnh T.
+ Ông Dương Hoàng L, sinh năm 1997
Nơi cư trú: ấp Nhuận Thành, xã Đức Mỹ, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Người làm chứng:
+ Ông Huỳnh Nhựt N, sinh năm 2004
Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh T.
+ Ông Mai Thanh Hoàng, sinh năm 1987
Nơi cư trú: khóm 3, thị trấn C, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 28 tháng 4 năm 2021, do có mâu thuẩn từ trước giửa người em của Nguyễn Văn B với người em của Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn B, sinh năm 1997, nơi cư trú khóm 5, thị trấn C, huyện C, tỉnh T nhờ người bạn t n Dương Hoàng L, sinh năm 1997, nơi cư trú ấp Nh, xã Đ, huyện C, tỉnh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84L1-653.74 chở đến nhà Lương Thanh Ph, sinh năm 1979, địa chỉ khóm 6, thị trấn C, huyện C, tỉnh T để tìm Nguyễn Văn L nói chuyện. Tại đây, giữa B và L xảy ra cự cải và đánh nhau, L có cầm đèn pin có vỏ bằng nhựa cứng đánh trúng vào phía sau tai trái B chảy máu sau đó B nhờ Long chở về nhà bà ngoại là Nguyễn Thị Li u, sinh năm 1943, nơi cư trú khóm 6, thị trấn C, huyện C, tỉnh T lấy hung khí là con dao dài khoảng 80cm, lưỡi dao bằng kim loại cất giấu trong người rồi k u Long chở trở lại nhà của Phong để đánh L nhưng Long không đồng ý, B d a đánh n n Long chở B đến nhà của Phong và dừng xe cách nhà Phong khoảng 50 mét để B tự đi một mình rồi Long bỏ đi. Khi thấy B cầm hung khí thì L và nhiều người bỏ chạy vào nhà của Phong đóng cửa lại. B dùng hung khí chém và dùng chân đạp vào cửa nhà của Phong, lúc này L tay phải cầm một con dao tự chế, tay trái cầm một ống tuýp bằng kim loại chạy ra đánh nhau với B. Trong lúc đánh nhau B sử dụng hung khí là dao chém L gây thương tích, còn L cũng sử dụng dao tự chế và ống tuýp bằng kim loại đánh B. Sau đó, B chạy về nhà của Mai Thanh Hoàng, sinh năm 1987, nơi cư trú khóm 4, thị trấn C, huyện C, tỉnh T để ngủ, còn L bị thương được đưa đi cấp cứu ngay sau đó tại Trung tâm y tế huyện Càng Long, rồi chuyển xuống Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh và chuyển l n bệnh viện Chợ Rẫy để điều trị.
Ngày 30/4/2021 Nguyễn Văn L có đơn gởi đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Càng Long được Nguyễn Văn T viết hộ do hai tay của L đang bị thương phải bằng bó không tự viết và ký t n được và đơn y u cầu xử lý hình sự ngày 18/5/2011 của Nguyễn Văn L y u cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn B là người đã có hành vi dùng dao tự chế chém gây thương tích cho L.
Ngày 25/6/2021 Nguyễn Văn B có đơn gởi đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Càng Long yêu cầu giám định thương tích và xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn L là người đã có hành vi dùng ống tuýp gây thương tích cho B.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 86/21/TgT ngày 05/8/2021 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Trà Vinh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây n n tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn L là 18%, cơ chế hình thành vết thương tr n người của nạn nhân Nguyễn Văn L là do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích tr n là vật cứng có cạnh sắc, hướng từ tr n xuống.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 127/21/TgT ngày 12/10/2021 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Trà Vinh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây n n tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn B là 01%, cơ chế hình thành vết thương tr n người của nạn nhân Nguyễn Văn B là do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích vùng sau tai trái là vật cứng có cạnh, hướng từ tr n xuống.
Về vật chứng: trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Càng Long thu giữ: 01 ống tuýp bằng kim loại có dạng hình tròn, đường kính 2,7cm, dài 103,5cm trong đó có một đầu bị cong lõm vào trong có kích thước 02cm x 6,5cm, cách mép đầu bị cong 7,5cm; Một cây dao tự chế bằng kim loại dài 66,3cm cán bằng kim loại dài 25,5cm hình tròn; lưỡi dao bằng kim loại dài 40,8cm, dẹp, sắc bén, mũi dao bằng; 01 đèn pin tròn, màu xanh đã qua sử dụng (loại đèn pin đội đầu đã hư hỏng); 04 đoạn video clip được trích xuất từ camera quan sát ghi lại sự việc đánh nhau giữa B và L.
Sau khi tiến hành xác minh tin tố giác tội phạm, ngày 24 tháng 11 năm 2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Càng Long đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn B về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 17/CT-VKS-HS ngày 17 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị can Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã khai tại cơ quan điều tra nhưng đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Vẫn giữ nguy n quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự n n đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt theo bản án số 39/2021/HSST ngày 24 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù giam, về bồi thường thiệt hại do và đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định pháp luật.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn L: khi xảy ra đánh nhau, L dùng đèn pin đánh gây thương tích cho B với tỷ lệ tổn thương gây ra cho bị cáo B là 01%, sau đó L đánh B bằng tuýp sắc chỉ gây phù nề, không để lại thương tích. Hành vi của L không cấu thành tội phạm, công an huyện Càng Long xử phạt hành chính Nguyễn Văn L về hành vi sâm hại sức khỏe với số tiền 2.500.000 đồng.
Đối với Dương Hoàng L: Khi Nguyễn Văn B nhờ chở lại nhà của Lương Thanh Ph thì B không nói với Long để đánh nhau và Long cũng không biết B có mang theo hung khí, đồng thời Long cũng không đồng ý chở B nhưng do B d a đánh n n Long mới chở B đến nhà của Phong rồi Long đi về. Hành vi của Dương Hoàng L không cấu thành tội phạm.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, đồng thời có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Càng Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và các đương sự trong vụ án không cung cấp chứng cứ mới và không y u cầu triệu tập ai khác để tham gia phiên tòa.
[2] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên toà, vắng mặt bị hại, vắng mặt tất cả người có quyền lợi và nghĩa vụ li n quan và người làm chứng nhưng các đương sự này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên không cần thiết phải hoãn phiên tòa. Do dó, căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo, người bị hại, những người làm chứng thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định pháp y về thương tích số 86/21/TgT ngày 05/8/2021 và kết luận giám định pháp y về thương tích số 127/21/TgT ngày 12/10/2021 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Trà Vinh cùng với toàn bộ chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại khóm 6, thị trấn C, huyện C, tỉnh T, do có mâu thuẩn từ trước giửa người em của bị cáo B với người em của L nên bị cáo Nguyễn Văn B tìm Nguyễn Văn L để nói chuyện và hai b n đã xãy ra đánh nhau trước sự can ngăn của những người làm chứng. Trong lúc đánh nhau bị cáo Nguyễn Văn B dùng dao tự chế dài khoảng 80cm, lưỡi dao bằng kim loại chém Nguyễn Văn L gây thương tích vùng đầu, vùng tay với tỷ lệ thương tật là 18% nên hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B đã vi phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đối với Nguyễn Văn L dùng đèn pin đánh gây thương tích cho bị cáo B với tỷ lệ thương tật là 01%, sau đó L đánh B bằng tuýp sắc chỉ gây phù nề, không để lại thương tật n n hành vi của L không đủ yếu tố cấu thành tội phạm và công an huyện Càng Long đã xử phạt hành chính Nguyễn Văn L về hành vi sâm hại sức khỏe với số tiền 2.500.000 đồng. Đối với Dương Hoàng L là người chở bị cáo B để gặp L xãy ra đánh nhau. Tuy nhiên, Long không có tham gia đánh nhau, không biết bị cáo B có mang theo hung khí và việc chở bị cáo B là do B d a đánh nên hành vi của Dương Hoàng L không cấu thành tội phạm. Như vậy, hành vi dùng hung khí nguy hiểm của bị cáo Nguyễn Văn B gây ra thương tích với với tỷ lệ thương tật cho L là 18% đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long đã truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn Văn B là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng hung khí gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhi n, vì thái độ coi thường pháp luật và coi thường quyền bất khả xâm phạm thân thể, sức khỏe của bị hại n n bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[6] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tiền án. Trong đó, một tiền án chưa được xóa án tích và một tiền án bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử ngày 24/9/2021 xử phạt tù có thời hạn 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo chưa chấp hành hình phạt; bị cáo có 02 tiền sự: Ngày 16/02/2021 bị Công an huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa đóng phạt) và ngày 30/4/2021 Công an huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa đóng phạt). Thấy rằng, bị cáo chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật hình sự thì hành vi của bị cáo B là tái phạm nguy hiểm nên trong vụ án này, bị cáo có tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, không những gây thiệt hại về sức khoẻ cho bị hại mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, pháp luật y u cầu phải xử lý nghi m để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng y u cầu phòng ngừa chung. Cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo biết tôn tr ng pháp luật, thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội của bị cáo một phần cũng có lỗi của bị hại đánh bị cáo n n bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Tại phi n toà hôm nay, bị hại Nguyễn Văn L vắng mặt, trong quá trình điều tra Nguyễn Văn L không có y u cầu bồi thường và bị cáo cũng không y u cầu bồi thường n n Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu có phát sinh y u cầu bồi thường, sẽ được dành cho một vụ kiện trong vụ án dân sự khác.
[11] Về xử lý vật chứng: 01 (một) ống tuýp bằng kim loại có dạng hình tròn, đường kính 2,7cm, dài 103,5cm trong đó có một đầu bị cong lõm vào trong có kích thước 02cm x 6,5cm, cách mép đầu bị cong 7,5cm; Một cây dao tự chế bằng kim loại dài 66,3cm cán bằng kim loại dài 25,5cm hình tròn; lưỡi dao bằng kim loại dài 40,8cm, dẹp, sắc bén, mũi dao bằng; 01 đèn pin tròn, màu xanh đã qua sử dụng (loại đèn pin đội đầu đã hư hỏng). Tất cả vật chứng tr n được sử dụng để gây thương tích n n cần tịch thu ti u hủy, hiện vật chứng tr n đang được tạm giử tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long; 04 đoạn video clip được trích xuất từ camera quan sát ghi lại sự việc đánh nhau giữa B và L là chứng cứ cần được tiếp tục lưu vào hồ sơ.
[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ tr n,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 45; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; Điều 268; Điều 269; khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293; Điều 299; Điều 331; khoản 2 Điều 329 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 04 (Bốn) năm tù có thời hạn.
Căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tổng hợp hình phạt theo bản án số 39/2021/HSST ngày 24 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B tù có thời hạn 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng h p hình xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 08 (Tám) năm tù có thời hạn. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2021.
3. Về vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ống tuýp bằng kim loại có dạng hình tròn, đường kính 2,7cm, dài 103,5cm trong đó có một đầu bị cong lõm vào trong có kích thước 02cm x 6,5cm, cách mép đầu bị cong 7,5cm; Một cây dao tự chế bằng kim loại dài 66,3cm cán bằng kim loại dài 25,5cm hình tròn; lưỡi dao bằng kim loại dài 40,8cm, dẹp, sắc bén, mũi dao bằng; 01 đèn pin tròn, màu xanh đã qua sử dụng (loại đèn pin đội đầu đã hư hỏng). Các vật chứng trên đã được tạm giử tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long. Lưu vào hồ sơ 04 đoạn video clip được trích xuất từ camera quan sát ghi lại sự việc đánh nhau giữa B và L.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện, tỉnh; - CCTHADS huyện Càng Long; - CAND huyện Càng Long; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |