vanban.org

Bản án 34/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí, lệ phí Tòa án. Phan Thị Bích Thủy và anh Nguyễn Văn Vàng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn C ly hôn chị Nguyễn Thị Thùy T"
  • Tòa quyết gì? hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 34/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 7 - 2022
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hòa Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Sơn Điền

2. Bà Huỳnh Thị Hồng Nho

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 331/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tổ 21, ấp Long H, xã Long A, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (có mặt).

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tổ 04, ấp Long H, xã Long A, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (vắng mặt lần thứ 2, không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 12 năm 2022 và lởi khai tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Thùy T sau thời gian tìm hiểu và quyết định sống chung, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã Long A, thị xã Tân C, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 41 ngày 27/4/2010. Cuộc sống chung hòa thuận, hạnh phúc được vài tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là kinh tế khó khăn, tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm, hay cãi vã nhau, hiện tại đã không sống chung từ năm 2010 đến nay, vợ chồng không thể hàn gắn, đoàn tụ dược nên anh C yêu cầu ly hôn với chị T.

- Về nuôi con chung: Anh C và chị T có 01 đứa con chung tên Nguyễn Thị Minh L, sinh ngày 07/4/2010 (đang sống với chị T ). Khi ly hôn, anh C đồng ý giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp lần đầu vào ngày 01/8/2022 và các tháng tiếp theo cho đến khi cháu L trưởng thành và tự lập được.

- Về tài sản chung và nợ chung : Không có

Bị đơn chị Nguyễn Thị Thùy T có hộ khẩu thường trú tại: Tổ 04, ấp Long H, xã Long A, thị xã Tân C, tỉnh An Giang. Chị T không có mặt tại nơi cư trú. Do đó, Tòa án không ghi được lời khai của chị T, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng bằng cách niêm yết tại nơi cư trú của anh Sơn theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự:

Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48; Điều 203; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham giam tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên Tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn chị Nguyễn Thị Thùy T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

Về nội dung:

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Thùy T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Minh L, sinh ngày 7/4/2010 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng ( Phù hợp với nguyên vọng cháu L) anh C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp lần đầu vào ngày 01/8/2022 và các tháng tiếp theo cho đến khi cháu L trưởng thành và tự lập được.

- Về tài sản và nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này, sau này nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Anh Có phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định vụ án như sau:

[ 1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Văn C khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy T có địa chỉ cứ trú tại: Tổ 04, ấp Long H, xã Long A, thị xã Tân C, tỉnh An Giang, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị T.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Thùy T sau thời gian tìm hiểu và quyết định sống chung, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã Long A, thị xã Tân C, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 41 ngày 27/4/2010 là hôn nhân hợp pháp.

Cuộc sống chung hạnh phúc được vài thán thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, hiện tại đã không sống chung từ năm 2010 cho đến nay, không thể hàn gắn tình cảm và đoàn tụ được, anh C yêu cầu ly hôn với chị T. Chị T vắng mặt tại địa phương không có lời khai, tuy hiên qua xác minh người thân của chị T thì được biết, chị T và anh C quá trình sống chung có mâu thuẫn vợ chồng, tại phiên tòa Hội đồng xét xử động viên anh C đoàn tụ, nhưng anh C cương quyết ly hôn, nhận thấy cuộc sống chung giữa anh C và chị T có phát sinh mâu thuẫn, tuy nhiên trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến nay, giữa anh C và chị T không có động thái hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Thùy T là phù hợp.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 41 ngày 27/4/2010 do UBND xã Long A, thị xã Tân C, tỉnh An Giang cấp cho anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Thùy T không còn giá trị pháp lý.

Về nuôi con chung: Anh C và chị T có 01 đứa con chung tên Nguyễn Thị Minh L, sinh ngày 7/4/2010 hiện nay đang sống với chị T, anh C đồng ý giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp lần đầu vào ngày 01/8/2022 và các tháng tiếp theo cho đến khi cháu L trưởng thành và tự lập được. nhận thấy, việc cháu L sống chung với chị T từ trước đến nay đã ổn định, nguyên vọng của cháu L là được tiếp tục sống với chị T, căn cứ vào các Điều 81- 82- 83- 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Nguyễn Thị Minh L cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp lần đầu vào ngày 01/8/2022 và các tháng tiếp theo cho đến khi cháu L trưởng thành và tự lập được.

Chị T tạo mọi điều kiện cho anh C đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh C khai trong thời gian sống chung với chị T không có tài sản chung và nợ chung, nhận thấy, do chưa ghi được lời khai của chị T nên không xác định được anh C và chị T có tài sản chung và nợ chung không. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung. sau này, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung, tổng cộng 600.000 đồng, nhưng được khấu từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006073 ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, anh Nguyễn Văn C phải nộp thêm 300.000 ( Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Thùy T.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 41 ngày 27/4/2010 do UBND xã Long A, thị xã Tân C, tỉnh An Giang cấp cho anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Thùy T không còn giá trị pháp lý.

- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Minh L,sinh ngày 7/4/2010 cho chị Nguyễn Thị Thùy T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp lần đầu vào ngày 01/8/2022 và các tháng tiếp theo cho đến khi cháu L trưởng thành và tự lập được.

Chị Nguyễn Thị Thùy T tạo mọi điều kiện cho anh Nguyễn Văn C đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở anh Nguyễn Văn C thực hiện quyền này.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung, tổng cộng 600.000 đồng, nhưng được khấu từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006073 ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, anh Nguyễn Văn C phải nộp thêm 300.000 ( Ba trăm nghìn) đồng.

- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn C được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng chị Nguyễn Thị Thùy T vắng mặt tại phiên tòa cũng có quyền kháng cáo trong thời hạn trên, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh An Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND TX.Tân Châu;

- Chi cục THADS TX. Tân Châu;

- UBND phường Long Hưng;

- Các đương sự (để thi hành);

- Lưu: Hồ sơ, V.phòng.

Phạm Hòa Bình

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ