- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H và anh T ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q TỈNH Q | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HNGĐ-ST Ngày: 18/8/2022 V/v “Tranh chấp HN - GĐ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q, TỈNH Q
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phan Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đàm Chí Thân và bà Vũ Thị Thanh
-Thư ký phiên toà: bà Mai Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Q.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Q tham gia phiên toà: ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2022 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 15/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2022/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2022.
Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1993;
Địa chỉ: khu 4, phường N, thị xã Q, tỉnh Q.
Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt
Bị đơn: anh Vũ Văn T, sinh năm 1986;
Địa chỉ: khu 4, phường N, thị xã Q, tỉnh Q.
Vắng mặt tại phiên tòa (đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/2011 tại UBND xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng nay là phường N, thị xã Q, tỉnh Q. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại khu 4, phường N, thị xã Q, tỉnh Q. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, lối sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, chửi bới nhau. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2021 cho đến nay. Khi ly thân mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Anh chị N Thủy đã nhiều lần tìm cách khắc phục mâu thuẫn hàn gắn hạnh phúc gia đình và hai bên gia đình cũng đã khuyên can, hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị N xác định không còn tình cảm với anh T, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Vũ Văn T.
-Về con chung: chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T có 02 con chung là Vũ Trung K, sinh ngày 20/01/2012 và Vũ Hoàng Q, sinh ngày 06/11/2015. Khi ly hôn, chị N nhận trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị N không yêu cầu anh Vũ Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung chu đáo.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T không có tài sản chung, không vay nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Vũ Văn T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có quan điểm trình bày.
Tại biên bản xác minh ngày 29/6/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Q; trưởng khu 7, phường N, thị xã Q cung cấp như sau: Chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/2011 tại UBND xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng nay là phường N, thị xã Q, tỉnh Q. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại khu 4, phường N, thị xã Q, tỉnh Q. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, lối sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, chửi bới nhau. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2021 cho đến nay. Khi ly thân mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Anh chị N Thủy đã nhiều lần tìm cách khắc phục mâu thuẫn hàn gắn hạnh phúc gia đình và hai bên gia đình cũng đã khuyên can, hòa giải nhưng không có kết quả. Anh T có hộ khẩu thường trú tại khu 4, phường N, thị xã Q, tỉnh Q nhưng anh T thường xuyên đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nên toàn bộ các văn bản, giấy tờ Tòa án tống đạt cho anh T như thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật. Nay chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn T, quan điểm của khu phố là đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T có 02 con chung là Vũ Trung K, sinh ngày 20/01/2012 và Vũ Hoàng Q, sinh ngày 06/11/2015. Khi ly hôn, đại diện khu phố đề nghị Tòa án xem xét giao các con chung cho người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Hiện tại các con chung sức khỏe bình thường, đang sống cùng chị N.
Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T có tài sản chung, công nợ chung hay không, khu phố không nắm được.
Tại thông báo số 28/TB-TA ngày 19/4/2022, Toà án thông báo cho các đương sự có mặt tại trụ sở Toà án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 06/5/2022. Chị N có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án đã lập biên bản về việc không mở được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng; biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai của con chung Vũ Trung K, sinh ngày 20/01/2012. Cháu Kiên có nguyện vọng muốn được ở cùng mẹ Nguyễn Thị N khi bố mẹ ly hôn.
Tại phiên toà sơ thẩm: nguyên đơn chị Nguyễn Thị N vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà về cơ bản đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chấp hành pháp luật tố tụng. Về nội dung: đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Vũ Văn T. Về con chung: giao 02 con chung Vũ Trung K, sinh ngày 20/01/2012 và Vũ Hoàng Q, sinh ngày 06/11/2015 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Vũ Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
1 Về thủ tục tố tụng:
-Về thẩm quyền xét xử của Tòa án: chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Văn T hiện đang cư trú tại khu 4, phường N, thị xã Q, tỉnh Q. Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Q thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn lần thứ hai anh Vũ Văn T đến tham gia phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Vũ Văn T vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
2 Về nội dung:
-Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T tự do tìm hiểu nhau và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/2011 tại UBND xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng nay là phường N, thị xã Q, tỉnh Q. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại khu 4, phường N, thị xã Q, tỉnh Q. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, lối sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, chửi bới nhau. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2021 cho đến nay. Khi ly thân mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Anh chị N Thủy đã nhiều lần tìm cách khắc phục mâu thuẫn hàn gắn hạnh phúc gia đình và hai bên gia đình cũng đã khuyên can, hòa giải nhưng không có kết quả. Hội đồng xét xử thấy: mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, giữa hai người không có khả năng đoàn tụ. Chị Nguyễn Thị N khởi kiện xin ly hôn với anh Vũ Văn T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.
-Về con chung: quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T có 02 con chung là Vũ Trung K, sinh ngày 20/01/2012 và Vũ Hoàng Q, sinh ngày 06/11/2015. Khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị N không yêu cầu anh Vũ Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy: chị N có công việc ổn định, có đủ điều kiện về kinh tế và có thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung. Hiện hai con chung chị N đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện hai con chung chị Khiêm đang chăm sóc, nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy cần giao hai con chung cho chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị N khai nhận không có tài sản chung và không có nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
3 Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
4 Về quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57; 58, 81,82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Vũ Văn T.
2. Về con chung: giao hai con chung Vũ Trung K, sinh ngày 20/01/2012 và Vũ Hoàng Q, sinh ngày 06/11/2015 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Vũ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Vũ Văn T được quyền qua lại thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010586 ngày 08/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Q, tỉnh Q. Chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
4. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thị xã Q; - Chi cục THADS TX Q; - TAND tỉnh Q; - UBND phường N; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Hùng |