- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình, Ly hôn - bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Yeh Yi H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29-9-2022 V/v tranh chấp “hôn nhân và gia đình, ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Tố Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Cương;
2. Bà Lê Kim Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Thanh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang không tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST-HN ngày 12 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2022/QĐST-HN ngày 29/8/2022, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm 2001; nơi cư trú: Tổ 02, ấp Phước Lợi, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Yeh Yi H, sinh năm 1981; nơi cư trú: 1.17/27, Hẻm 245, đường Tây Thịnh, khóm 005, phường Q, khu T, thành phố T, Đài Loan, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T trình bày:
Vào năm 2019 bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Yeh Yi H sống chung với nhau như vợ chồng, sau đó đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 04-10-2019. Trong quá trình sinh sống bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Yeh Yi H thường xảy ra mâu thuẫn, không ai quan tâm ai hai người sống hai nơi khác nhau, bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung. Tình cảm vợ chồng không còn hợp nhau, bà Huỳnh Thị Ngọc T đã cố gắng dung hòa để giữ mối quan hệ hôn nhân nhưng tình cảm hiện nay không thể hàn gắn lại được. Nay bà T làm đơn khởi kiện ly hôn với ông Yeh Yi H.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Yeh Yi H đã được Tòa án làm thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt Thông báo thụ lý và Lịch làm việc của Tòa án. Kết quả ủy thác của Cơ quan thẩm quyền của Lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác nêu trên vào ngày 09/8/2022 bằng phương thức gửi hồ sơ ủy thác tại đồn công an, nhưng quá hạn ông Yeh Yi H không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gửi về cho Tòa án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai.
Tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa công bố các đơn và tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Yeh Yi H, sinh năm 1981 có nơi cư trú tại Đài Loan, nguyên đơn có nơi cư trú tại Tổ 02, ấp Phước Lợi, xã Ô Lâm, huyện T tỉnh An Giang. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vụ án hôn nhân và gia đình không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên không có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được cơ quan có thẩm quyền của Lãnh thổ Đài Loan tống đạt Thông báo thụ lý và Lịch làm việc, xét xử của Tòa án nhưng vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân của bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Yeh Yi H tự nguyện có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 04/10/2019 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn khởi kiện ly hôn và trình bày: Quá trình chung sống, bà T và ông Yeh Yi H thường xảy ra mâu thuẫn, không ai quan tâm ai hai người sống hai nơi khác nhau, bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung. Bà T cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn. Về phía bị đơn ông Yeh Yi H không gửi ý kiến của mình về yêu cầu ly hôn của bà T cho Tòa án và cũng không đến Tòa án theo lịch làm việc. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung đã không còn trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn bị đơn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 04-10-2019 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung; Không có
Tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét đến.
Về chi phí tố tụng: Không có.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ưng án phí đã nộp.
Về chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp là 200.000 đồng, khấu trừ tạm ứng đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T.
1. Bà Huỳnh Thị Ngọc T được ly hôn với ông Yeh Yi H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 04-10-2019 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Bà Huỳnh Thị Ngọc T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000103 ngày 25-4-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Huỳnh Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
5. Về lệ phí ủy thác tư pháp:
Bà Huỳnh Thị Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng chi phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số: 0000085 ngày 04-5-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà T đã nộp đủ lệ phí ủy thác.
Bà Huỳnh Thị Ngọc T có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Thời hạn kháng cáo của ông Yeh Yi H là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh An Giang ; - Ủy ban nhân dân huyện T; - Cục THA dân sự tỉnh An Giang; - Tòa Gia đình và NCTN; - Phòng KTNV và THA; - Văn phòng; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Tố Giang |