- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Văn H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị L;
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/HNGĐ-ST Ngày 25 tháng 8 năm 2022 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Vi Nhật Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Tám
Ông Đỗ Văn Nhã.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh: Ông Đoàn Anh Tài - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 72/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2021 về việc: “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị L - sinh năm: 1978; Trú tại: Thôn X, xã S, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Võ Văn H - sinh năm: 1975; Trú tại: Thôn X, xã S, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2021, biên bản lấy lời khai ngày 11/3/2021, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và và anh Võ Văn H tự nguyện yêu thương, về sống chung với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 02/2017 ngày 17 tháng 01 năm 2017.
Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống tại Thôn X, xã S, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Thời gian đầu chung sống giữa vợ chồng có hạnh phúc nhưng càng về sau thì giữa vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do cả hai bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh H sống vô tâm, không quan tâm đến vợ con, ham mê cờ bạc, ngoài ra còn thường đánh đập chị, chị có góp ý nhưng anh H không nghe mà ngược lại còn đánh thêm. Hiện tại, chị xác định tình cảm giữa chị và anh H đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho tôi với anh Hòa.
Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung là Võ Văn B - sinh ngày 24 tháng 11 năm 2016; khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi; chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị L xác định không có.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/12/2021, bị đơn anh Võ Văn H trình bày: Anh thống nhất với phần trình bày của chị L về thời gian kết hôn cũng như về quan hệ hôn nhân. Anh thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng anh chị hiện nay đang có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tình hình dịch bệnh nên anh không làm ra tiền, kinh tế khó khăn, bản thân anh cũng có sai sót, nay chị L yêu cầu ly hôn, anh vẫn còn tình cảm nên không đồng ý ly hôn, anh xin được hòa giải về sống đoàn tụ cùng chị L.
Về con chung: Vợ chồng anh có 01 (một) con chung là Võ Văn B - sinh ngày 24 tháng 11 năm 2016; nếu phải ly hôn, anh đồng ý giao cho chị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi; anh không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh H xác định không có.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để anh H thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa phát biểu:
1. Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Văn H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp giữa chị L với anh H là “Tranh chấp về ly hôn”. Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa là Tòa án nơi mà anh H cư trú theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.
Tại phiên tòa anh Võ Văn H dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Văn H.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Thị L và anh Võ Văn H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Khánh Hòa và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 02/2017 ngày 17 tháng 01 năm 2017. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn H. Về nguyên nhân gây ra mâu thuẫn giữa chị L và anh H, theo chị L xác định: Do cả hai bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh H sống vô tâm, không quan tâm đến vợ con, ham mê cờ bạc, ngoài ra còn thường đánh đập chị, chị có góp ý nhưng anh H không nghe mà ngược lại còn đánh chị. Mặc dù chị L cũng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn mâu thuẫn giữa vợ chồng nhưng không thành công. Chị xác định hiện tại chị và anh H đã không còn quan hệ gì với nhau về mọi mặt, từ chuyện tình cảm đến kinh tế.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Võ Văn H vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 15/12/2021 thể hiện tuy anh Võ Văn H không đồng ý ly hôn nhưng anh cũng thừa nhận quan hệ giữa vợ chồng anh chị đã có mâu thuẫn gay gắt, không giải quyết được.
Mặt khác, dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để giải quyết mâu thuẫn giữa anh chị nhưng anh Hòa vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ anh Hòa đã bỏ mặc, không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân giữa anh và chị L nữa.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Lê Thị L và anh Võ Văn H đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị L đối với anh Võ Văn H.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
Chị Lê Thị L và anh Võ Văn H có 01 (một) con chung là Võ Văn B - sinh ngày 24 tháng 11 năm 2016. Chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/12/2021, anh H cũng đồng ý giao cho chị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi; anh không cấp dưỡng nuôi con chung.
Để tạo điều kiện phát triển toàn diện của con chung và theo nguyện vọng của chị L và anh H, xét thấy cần giao con chung là Võ Văn B - sinh ngày 24 tháng 11 năm 2016 cho chị Lê Thị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu anh Hòa phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị L xác định vợ chồng không có nợ chung.
Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị L;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn với bị đơn anh Võ Văn H.
2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung là Võ Văn B
- sinh ngày 24 tháng 11 năm 2016 cho chị Lê Thị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi; chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị L, anh H có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0003691 ngày 05 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh; chị L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Vạn Ninh; - Chi cục THA huyện Vạn Ninh; (Sau khi án có hiệu lực pháp luật) - Ủy ban nhân dân xã Xuân Sơn; - Các đương sự; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Nhật Hoàng |