vanban.org

Bản án 34/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn V.

Về con chung: Giao chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu: Vũ Gia B, sinh ngày 11/02/2008 và Vũ Gia H, sinh ngày 15/5/2012. Anh Vũ Văn V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Gia B và cháu Vũ Gia H mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/1 cháu (02 cháu m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H yêu cầu ly hôn với anh V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2022/HNGĐ-ST
Ngày 09-8-2022
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hồng Trang;

2. Ông Lê Hoàng Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2022/QĐXX-ST ngày 01 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1984, vắng mặt;

Cư trú tại: Tổ 13, khu phố 4, thị trấn T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn V, sinh năm 1987, vắng mặt;

Cư trú tại: Tổ 13, khu phố 4, thị trấn T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 02 năm 2022 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Ngô Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh V chung sống vợ chồng từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, hôn nhân tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau, anh V thường xuyên đi nhậu về kiếm chuyện cự cãi với chị, nói chuyện không có sự tôn trọng với cha, mẹ chị. Đến tháng 02/2021 anh V bỏ nhà đi nơi khác sống, chị và anh V đã sống ly thân từ tháng 02/2021 đến nay. Chị yêu cầu được ly hôn với anh V.

- Về con chung: Chị và anh V chung sống có 02 con chung là: Vũ Gia B, sinh ngày 11/02/2008 và Vũ Gia H, sinh ngày 15/5/2012. Cả 02 con chung hiện nay đang sống cùng với chị. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/cháu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.

* Đối với anh Vũ Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Tại phiên toà sơ thẩm:

- Nguyên đơn chị Ngô Thị H và bị đơn anh Vũ Văn V vắng mặt;

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi vụ án thụ lý, quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự;

+ Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Ngô Thị H, chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn V;

Về con chung: Giao cháu Vũ Gia B, sinh ngày 11/02/2008 và Vũ Gia H, sinh ngày 15/5/2012 cho chị H nuôi dưỡng. Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/1 cháu cho đến khi các cháu trưởng thành;

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết;

Về án phí: Chị Ngô Thị H chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, anh Vũ Văn V phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

+ Về kiến nghị khắc phục: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Về tố tụng: Ngày 20/5/2022, chị Ngô Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H. Anh Vũ Văn V đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Vũ Văn V.

Về hôn nhân: Chị H và anh V tự nguyện chung sống vợ, chồng vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay chị H yêu cầu được ly hôn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng anh V không đến. Qua thu thập chứng cứ thể hiện: Quá trình chị H và anh V chung sống anh V thường xuyên nhậu nhẹt, vợ chồng thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn cự cãi với nhau và đập phá đồ đạc trong gia đình. Hiện nay anh V đã bỏ đi nơi khác hơn một năm nay không còn chung sống với chị H nữa. Điều này thể hiện giữa chị H và anh V không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh V có hai con chung là: Cháu Vũ Gia B, sinh ngày 11/02/2008 và Vũ Gia H, sinh ngày 15/5/2012. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi cháu B và cháu H mỗi tháng 1.500.000 đồng/1 cháu, thời gian cấp dưỡng từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi cháu B và cháu H đủ 18 tuổi. Xét thấy hiện nay cháu B và cháu H đang sống cùng với chị H, hơn nữa cháu B và cháu H đều có nguyện vọng muốn sống cùng với chị H. Do đó, giao chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu B và cháu H là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Xét việc chị H yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi cháu B và cháu H là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình. Cần buộc anh V cấp dưỡng nuôi cháu B và cháu H mỗi tháng 1.500.000 đồng/1 cháu, thời gian cấp dưỡng từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi cháu B và cháu H đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị H không yêu cầu giải quyết;

Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn); anh Vũ Văn V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sở thẩm (cấp dưỡng nuôi con) theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

ơ

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn V.

2. Về con chung: Giao chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu: Vũ Gia B, sinh ngày 11/02/2008 và Vũ Gia H, sinh ngày 15/5/2012. Anh Vũ Văn V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Gia B và cháu Vũ Gia H mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/1 cháu (02 cháu mỗi tháng 3.000.000 đồng). Thời gian anh V cấp dưỡng nuôi con từ ngày 9/8/2022 đến khi cháu B và cháu H đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, anh Vũ Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Ngô Thị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Vũ Văn V không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Ngô Thị H cho đến khi thi hành án xong, anh Vũ Văn V còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (án phí ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003759 ngày 07 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, chị Ngô Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Vũ Văn V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (án phí cấp dưỡng nuôi con).

5. Chị Ngô Thị H và anh Vũ Văn V vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ