- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Th- Mai Văn Ng"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Mai Văn Ng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 34/2022/HNGĐ-ST Ngày 17-3-2022 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung giữa Chị Th và anh Ng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hóa;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ngày 17 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 213/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01tháng 3 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08tháng 3 năm 2022 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1997. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Xuân Đài Đông, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định. Nơi ở hiện nay: Xóm Việt Tiến, xã HT, huyện HH, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Anh Mai Văn Ng, sinh năm 1990. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Xuân Đài Đông, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Chị Th vắng mặt có lý do; anh Ng vắng mặt lần 2 không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 21/12/2021, bản tự khai ngày 22/12/2021 và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày:
Chị Nguyễn Thị Th và anh Mai Văn Ng đăng ký kết hôn với nhau ngày 22/01/2016 tại Uỷ ban nhân dân xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại xóm 3 Xuân Đài Đông, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định. Vợ chồng sống hoà thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc ly hôn là do tính tình, quan điểm sống không hợp, là đàn ông nhưng anh Ng không chăm lo, vun vén cuộc sống gia đình. Chị Th và anh Ng ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ tháng 12 năm 2019 đến nay. Nay xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn nên chị Th đề nghị được ly hôn với anh Ng.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Mai Hoàng Nhã Uyên, sinh ngày 22/08/2018 hiện đang ở cùng chị Th. Khi ly hôn, chị Th nhận tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Th xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý số 203/TB-TLVA ngày 22-12-2021; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hợp lệ cho anh Mai Văn Ng nhưng anh Ng không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Ng nhưng anh Ng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21, Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội Đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, căn cứ quy định tại các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, có đủ căn cứ xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Mai Văn Ng. Đề nghị Tòa án giao con chung là cháu Mai Hoàng Nhã Uyên, sinh ngày 22/08/2018 cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng; anh Ng không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị Th. Về phần tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Do các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Mai Văn Ng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Th, anh Ng là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Mai Văn Ng là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 22/01/2016. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với anh Ng thì thấy: Từ năm 2019 giữa chị Th và anh Ng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn; nguyên nhân do tính tình, quan điểm sống không hợp, anh Ng không quan tâm, chăm lo cuộc sống gia đình. Do cuộc sống chung không hòa thuận nên chị Th và anh Ng đã ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm từ năm 2019 đến nay. Mặt khác, anh Ng đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, đã biết được việc chị Th làm đơn xin ly hôn nhưng không trình bày ý kiến, không đến Tòa án làm việc chứng tỏ anh Ng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Th. Trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh Ng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Th, cho chị Th được ly hôn anh Ng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Th và anh Mai Văn Ng có 01 con chung là cháu Mai Hoàng Nhã Uyên, sinh ngày 22/08/2018. Hiện con chung đang ở với chị Th. Khi ly hôn, chị Th đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu của chị Th trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung sau ly hôn thì thấy: Trong suốt thời gian vợ chồng ly thân, con chung do chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Đến nay, anh Ng cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị Th: Giao con chung cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên; anh Ng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Th là phù hợp quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, chị Th xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến nay, anh Ng cũng không có ý kiến gì về việc giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Th phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Mai Văn Ng.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Mai Hoàng Nhã Uyên, sinh ngày 22/08/2018 cho chị Nguyễn Thị Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Ng không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị Th mà có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây anh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Hiện cháu Uyên đang do chị Th nuôi dưỡng nên hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ giao con cho nhau.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0006033 ngày 22-12-2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị Nguyễn Thị Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định: 1 bản; - VKSND tỉnh+huyện: 2 bản; - Chi cục THADS huyện: 1 bản; - UBND xã Hải Hòa: 1 bản; - Các đương sự: 2 bản; - Lưu hồ sơ + VP: 3 bản. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hòe |