- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thái Thị Thanh Kiều và Lê Vũ Đạt"
- Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị Thanh K là được ly hôn với anh Lê Vũ Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số: 34/2022/HNGĐ-ST Ngày: 17/5/2022. Về việc: “T/c về Ly hôn; Nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Sơn;
2. Bà Trần Thị Quế Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 363/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2021, về việc “Tranh chấp về ly hôn; Nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/4/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thái Thị Thanh K, sinh năm 1987;
Nơi cư trú: Tổ 27, ấp H, thị trấn A, huyện T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Lê Vũ Đ, sinh năm 1979;
Nơi cư trú: Tổ 27, ấp H, thị trấn A, huyện T, tỉnh An Giang.
(Vắng mặt bị đơn anh Lê Vũ Đ; Đã tống đạt hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Thái Thị Thanh K và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Chị Thái Thị Thanh K sống chung với anh Lê Vũ Đ từ năm 2003, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân dân thị trấn An Châu (giấy đăng ký kết hôn số 202 ngày 30/8/2011). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong tình cảm vợ chồng, thường xuyên hay cãi nhau, không còn tôn trọng nhau và đã sống ly thân cho đến nay; Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Lê Thị Kiều O sinh ngày 29/7/2005 đang sống chung với chị K và Lê T sinh ngày 09/3/2007 đang sống với anh Đ.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Thái Thị Thanh K yêu cầu được ly hôn với anh Lê Vũ Đ; Về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Kiều O và giao cháu Lê T cho anh Đ nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản thì tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Về phía bị đơn anh Lê Vũ Đ thì: Toà án đã nhiều lần gửi Thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng đều vắng mặt không lý do. Qua chứng cứ thu thập được thì anh Lê Vũ Đ có nơi cư trú tại tổ 27, ấp H, thị trấn A, huyện T, tỉnh An Giang; Hiện tại anh Lê Vũ Đ không thường xuyên có mặt tại địa phương nhưng không cung cấp nơi làm việc hoặc địa chỉ mới nên Tòa án đã thông qua Thừa phát lại thực hiện các thủ tục tố tụng để mở phiên tòa xét xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về xin ly hôn và nuôi con chung, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Vũ Đ vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị Thanh K đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với anh Lê Vũ Đ từ năm 2003 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; Nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị K xin được ly hôn với anh Đ. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị K và anh Đ đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, Tòa án nhiều lần mời anh Lê Vũ Đ để hòa giải cho anh, chị đoàn tụ nhưng anh Đ không còn quan Tâm đến cuộc sống vợ chồng, vẫn không có mặt. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị Thanh K là được ly hôn với anh Lê Vũ Đ.
Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Thái Thị Thanh K thừa nhận 02 cháu Lê Thị Kiều O sinh ngày 29/7/2005 và Lê T sinh ngày 09/3/2007 là con chung của chị và anh Lê Vũ Đ, giấy khai sinh của các cháu cũng đã thể hiện điều này, do đó cần công nhận cháu Kiều O và Lê T là con chung của chị K và anh Đ, đồng thời phía chị Thái Thị Thanh K có yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Kiều O và giao cháu Lê T cho anh Đ nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi anh, chị không còn sống chung nữa thì cháu Kiều O đã sống chung với chị K đến nay, đồng thời đến thời điểm này phía anh Đ cũng không tranh chấp; Do đó, để ổn định tâm lý và cuộc sống cho các cháu nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị Thanh K là được tiếp tục nuôi cháu Lê Thị Kiều O và tiếp tục giao cháu Lê T cho anh Lê Vũ Đ nuôi dưỡng. Ngoài ra, phía chị Thái Thị Thanh K không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Thái Thị Thanh K có yêu cầu ly hôn với anh Lê Vũ Đ nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Xử:
* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị Thanh K là được ly hôn với anh Lê Vũ Đ. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 202 ngày 30/8/2011 do Uỷ ban nhân dân thị trấn An C (huyện T, tỉnh An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận 02 cháu Lê Thị Kiều O sinh ngày 29/7/2005 và Lê T sinh ngày 09/3/2007 là con chung của chị Thái Thị Thanh K và anh Lê Vũ Đ;
+ Giao cháu Lê Thị Kiều O cho chị Thái Thị Thanh K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (hiện cháu Kiều O đang sống chung với chị K);
+ Giao cháu Lê T cho anh Lê Vũ Đ được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (hiện cháu Lê T đang sống chung với anh Đ);
+ Chị Thái Thị Thanh K, anh Lê Vũ Đ không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau; Đồng thời, chị K và anh Đ cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
* Về quan hệ tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận.
* Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Chị Thái Thị Thanh K phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0002694 ngày 29/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang; Được khấu trừ nên chị Thái Thị Thanh K đã nộp xong.
Báo cho đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án (có lý do khách quan) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh An Giang; - VKSND H.Châu Thành; - Chi cục THADS H.Châu Thành; - UBND thị trấn An Châu; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |