vanban.org

Bản án 34/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 14, Điều 53, 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1…

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Hoàng Trung S và chị Triệu Thị X. Về án phí: Anh Hoàng Trung S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành á…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 14, Điều 53, 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1…
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG
Bản án số: 34/2022/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 9 - 2022

"V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Tuấn Vĩnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Tú

2. Bà Nguyễn Thị Lam

- Thư ký phiên tòa: Ông Lăng Đức Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Trung S, sinh năm 1974; có mặt.

- Bị đơn: Chị Triệu Thị X, sinh năm 1980; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cùng cư trú tại: Thôn G, xã P, huyện Q, tỉnh Hà Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và tại phiên tòa nguyên đơn anh Hoàng Trung S trình bày: Anh và chị Triệu Thị X tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau từ năm 1995 trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc và được gia đình hai bên cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương nhưng anh chị không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn anh và chị X chung sống với nhau tại thôn G, xã P, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh sống hạnh phúc với nhau và đã có với nhau hai đứa con chung, đến khoảng năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, mỗi người một quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không có sự động viên chia sẻ, từ đó xảy ra cãi nhau, vợ tôi không tu trí làm ăn, thường đi vắng xa nhà, đi đâu làm gì không nói cho tôi được biết. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình can thiệp hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng đầu năm 2004 cho đến nay và không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Đến nay anh Hoàng Trung S nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài nên anh có đơn yêu cầu xin ly hôn chị Triệu Thị X.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là chị Triệu Thị X xác nhận: Về thời gian, địa điểm, quan hệ hôn nhân như lời trình bày của anh S là đúng. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị sống hạnh phúc và đã có với nhau hai con chung. Đến khoảng năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng chị không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình, việc mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được anh em họ hàng và gia đình hai bên khuyên bảo song tình cảm vợ chồng chị cũng không cải thiện được mà càng trầm trọng hơn, trên thực tế thì vợ chồng chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2004 cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Hiện nay anh S có yêu cầu xin được ly hôn thì chị nhất trí.

Về con chung: Anh Hoàng Trung S và chị Triệu Thị X đều khai nhận quá trình chung sống anh chị có hai con chung là cháu Hoàng Thị H, sinh ngày 10/9/1996 và cháu Hoàng Đức H1, sinh ngày 16/01/1999, hiện cháu H và cháu H1 đều trên 18 tuổi và đã có gia đình riêng, nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản chung, công nợ chung: Anh chị đều không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Hoàng Trung S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là xin được ly hôn chị Triệu Thị X và tại phiên tòa vắng mặt chị X nhưng chị X đã có đơn xin xét xử vắng mặt và chị Triệu Thị X cũng nhất trí ly hôn; về con chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; về chia tài sản chung, công nợ chung: Anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Hoàng Trung S và chị Triệu Thị X; Việc nuôi con: Con chung đã trên 18 tuổi nên không đề cập gải quyết; về án phí, anh S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án do anh Hoàng Trung S có đơn yêu cầu ly hôn, căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án. Thẩm quyền theo cấp xét xử thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị triệu Thị X có nơi cư trú là thôn G, xã P, huyện Q, tỉnh Hà Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thẩm quyền theo lãnh thổ là Tòa án nơi bị đơn cứ trú nên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang thụ lý là đúng thẩm quyền.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án chị Triệu Thị X đã có bản tự khai và đã có mặt tại buổi tiếp cận công khai chứng cứ. Tuy nhiên sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án, chị Triệu Thị X đã có đơn xin xét xử vắng mặt, Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Bắc Quang vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về yêu cầu xin ly hôn: Việc anh Hoàng Trung S và chị Triệu Thị X bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 đến nay và được gia đình hai bên cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương nhưng anh chị không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mặc dù cả hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình. Lời khai của anh chị phù hợp với nhau và phù hợp với xác nhận về tình trạng hôn nhân của anh chị tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện Q, tỉnh Hà Giang nơi anh chị cư trú.

[4] Tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

"Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này"

[5] Tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

"Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng"

[6] Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Trung S cần được xử bằng một bản án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai anh chị là có cơ sở.

[7] Về việc nuôi con chung: Thời gian chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Thị H, sinh ngày 10/9/1996 và cháu Hoàng Đức H1, sinh ngày 16/01/1999, hiện con chung đã đủ 18 tuổi, nên anh S, chị X không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[8] Về chia tài sản chung, công nợ chung: Anh Hoàng Trung S và chị Triệu Thị X không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[9] Ngoài ra nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 14, Điều 53, 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Hoàng Trung S và chị Triệu Thị X.

- Về án phí: Anh Hoàng Trung S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang theo biên lai số 0003175, ngày 16/8/2022.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn. Tòa án báo cho các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ