vanban.org

Bản án 34/2022/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Long An Tuyên án 08/12/2022 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Vũ Văn L;

Sửa bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 110/2022/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hồng G về việc ly hôn đối với ông Vũ Văn L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Vũ Văn L;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2022/HNGĐ-PT
Ngày: 08-12-2022
Về việc “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Dũng

Các Thẩm phán:

Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khải - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2022/TLPT-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn”.

Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 110/2022/HNGĐ-ST, ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 43/2022/QĐ-PT ngày 09 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng G, sinh năm: 1985, cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Vũ Văn L, sinh năm: 1976, cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Vũ Văn L, bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 16/5/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thị Hồng G trình bày:

Bà và ông Vũ Văn L xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 04/12/2010. Hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cuộc sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong đó có vấn đề về kinh tế gia đình. Mặc dù vợ chồng sống chung nhà nhưng không ai quan tâm lẫn nhau. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Vũ Văn L.

Về con chung: Bà và ông Long có 02 con chung tên là Vũ Trần Gia H, sinh ngày 28/4/2011 và Vũ Trần Ngọc H, sinh ngày 14/3/2017. Khi ly hôn bà yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Vũ Văn L trình bày tại phiên tòa: Ông thống nhất với lời trình bày của bà G về thời gian kết hôn giữa hai người. Tuy nhiên, ông trình bày rằng cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì, vợ chồng sống chung tại nhà và sinh hoạt bình thường. Khoảng 03-04 tháng nay, do bà G cho rằng ông không đưa tiền cho bà G trong sinh hoạt hàng tháng nhưng thực tế ông đưa tiền bằng hình thức khác, đó là ông giao bà đứng tên các tài sản có giá trị lớn trong nhà nên qua yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà G thì ông không đồng ý.

Về con chung: Ông và bà G có hai con chung tên là Vũ Trần Gia H, sinh ngày 28/4/2011 và Vũ Trần Ngọc H, sinh ngày 14/3/2017. Nếu Tòa án cho ly hôn, ông yêu cầu nuôi cháu Vũ Trần Ngọc H, bà G nuôi dưỡng cháu Vũ Trần Gia H, không bên nào cấp dưỡng bên nào.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 110/2022/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã quyết định:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 và 86 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Bà Trần Thị Hồng G được ly hôn với ông Vũ Văn L.

Về con chung: Bà Trần Thị Hồng G trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Trần Gia H, sinh ngày 28/4/2011. Ông Vũ Văn L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Trần Ngọc H, sinh ngày 14/3/2017. Không bên nào cấp dưỡng bên nào.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 23 tháng 9 năm 2022, ông Vũ Văn L kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn đối với bà Trần Thị Hồng G.

Bị đơn ông Vũ Văn L cho rằng giữa ông và bà G không có mâu thuẫn với nhau, vợ chồng vẫn còn tình cảm với nhau. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông L, sửa bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa có ý kiến nhận xét về thủ tục giải quyết vụ án đã đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung tranh chấp: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn giữa ông Long và bà G kéo dài nhiều năm, mục đích hôn nhân giữa bà G, ông Long không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà G là có cơ sở. Bản án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Đơn kháng cáo của ông Vũ Văn L thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về quan hệ hôn nhân: Bà G trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông L không quan tâm, chăm sóc vợ con. Vợ chồng hiện sống chung nhà, nhưng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không ăn chung, ngủ chung từ lâu. Ông L cho rằng hiện nay vợ chồng sống chung một nhà, không hề có mâu thuẫn. Tuy thời gian qua ông tập trung nhiều vào công việc, ít quan tâm gia đình nhưng hiện nay công việc đã ổn định và ông đã sắp xếp được thời gian để chăm sóc vợ con nhiều hơn, cuộc sống vợ chồng đã ổn định.

Xét thấy, bà G khởi kiện ly hôn với ông L vì cho rằng cuộc sống vợ chồng thời gian sau này có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt hằng ngày trong đó có vấn đề kinh tế. Tuy nhiên, trước Tòa án ông L không thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và cho đến thời điểm hiện nay vợ chồng vẫn sống chung nhà, sinh hoạt bình thường. Bà G khởi kiện nhưng không đưa ra bất cứ chứng cứ gì chứng minh tình trạng vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, bà G xin vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng nên không thể đối chất, tranh tụng để làm rõ nguyên nhân xin ly hôn của bà. Bản án sơ thẩm chỉ căn cứ vào đơn khởi kiện và bản tự khai để chấp nhận yêu cầu ly hôn là chưa có cơ sở. Trong khi đó, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông L luôn tha thiết Tòa án xem xét, động viên để vợ chồng đoàn tụ. Do đó, để tạo điều kiện cho ông L và bà G có thời gian suy nghĩ và có quyết định chính xác đối với vấn đề hôn nhân của mình cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G.

Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Hồng G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013483, ngày 17/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Bà G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên ông L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Vũ Văn L;

Sửa bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 110/2022/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hồng G về việc ly hôn đối với ông Vũ Văn L.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Hồng G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013483, ngày 17/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Bà G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về án phí phúc thẩm: Ông Vũ Văn L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Long 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng số 0001016 ngày 23/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Ðiều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ