vanban.org

Bản án 34/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Văn Th.

Buộc ông Nguyễn Văn Th phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V số tiền tạm tính đến ngày 20/06/2022 là 86.775.019đ (Tám mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi năm ngàn, không trăm mười chín đồng); Trong đó: nợ gốc là 37.500.000đ, tiền lãi trong hạn là 5.027.519đ, tiền lãi quá hạn là 44.247.500đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HIỆP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
g
Bản án số: 34/2022/DSST
Ngày 20-06-2022
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ông Trƣơng Văn Sắc.

2. bà Phan Thị Trúc Phƣơng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Thiên Ân – Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: ông Trần Công Đỉnh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 06 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2022/TLST–DS ngày 11 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST–DS ngày 11 tháng 05 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2022/QĐST-DS ngày 30 tháng 05 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần B Đ L V

Địa chỉ: Địa chỉ: Tầng 1,3,4,5,6 Tòa nhà Thaiholdings, số 210 Tr Q Kh, phường Tr T, quận H K, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S – Chức vụ: Chức vụ: Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thanh D – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V – Chi nhánh Kiên Giang.

Địa chỉ: 63, L L, P.V Th V, Tp. R G, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Hoàng Việt C – Chức vụ: Giám

đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V – Chi nhánh Kiên Giang, Phòng giao dịch T H. Theo Quyết định ủy quyền số 1240/2020/QĐ-LienVietPostBank.KG ngày 22/10/2020 của Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V – Chi nhánh Kiên Giang.

Địa chỉ: Kh B, Th Tr T H, huyện T H, tỉnh Kiên Giang

(Có mặt tại phiên tòa)

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Th – sinh năm 1966.

Địa chỉ: ấp T H B, xã T H, huyện T H, tỉnh Kiên Giang.

(Vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V là ông Hoàng Việt C trình bày:

Ngày 02/02/2015, Ngân hàng TMCP B Đ L V – Chi nhánh Kiên Giang có ký Hợp đồng Tín dụng số 0240/2015/KG/HĐTD-LienVietPostBank với ông Nguyễn Văn Th để cho ông Th vay số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); mục đích vay: tiêu dùng, thời hạn vay: 24 tháng, lãi suất cho vay: 13,2%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Từ khi vay đến nay ông Th trả được cho Ngân hàng số nợ gốc là 12.500.000đ, lãi là 3.373.731đ. Ngân hàng đã nhiều lần tìm gặp để yêu cầu ông Th trả nợ cho Ngân hàng nhưng ông Th vẫn không thực hiện việc trả nợ này. Theo thông tin Ngân hàng được biết thì hiện nay ông Th đã đi làm ăn xa, không biết địa chỉ cụ thể ở đâu.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền Ngân hàng TMCP B Đ L V yêu cầu ông Th phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 20/6/2022 là 86.775.019đ; trong đó: nợ gốc là 37.500.000đ, tiền lãi trong hạn là 5.027.519đ, tiền lãi quá hạn là 44.247.500đ và yêu cầu tính lãi phát sinh. Ngoài ra tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền Ngân hàng TMCP L V xin rút lại phần lãi phạt chậm trả là 6.015.363đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bị đơn Nguyễn Văn Th vắng mặt không có lý do nên không có bản tự khai và lời trình bày tại Tòa án. * Phát biểu của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Tân Hiệp tham gia phiên tòa:

- Ý kiến của Viện Kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử được thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nên không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của bị đơn.

- Ý kiến của Viện Kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V.

+ Buộc ông Nguyễn Văn Th phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V số nợ gốc là 86.775.019đ và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký cho đến khi ông Th thanh toán dứt nợ.

+ Về án phí: ông Th phải chịu án phí có giá ngạch.

+ Về lệ phí: Ngân hàng phải chịu chi phí thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Quan hệ pháp luật tranh chấp xảy ra giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V và ông Nguyễn Văn Th là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V được quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cũng như thông báo tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật; nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Th vắng mặt không có lý do. Ngoài ra, tại phiên tòa người đại diện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Th. Do vậy, Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn Th.

- Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét thấy,Hợp đồng Tín dụng số 0240/2015/KG/HĐTD-LienVietPostBank ngày 02/02/2015 đã được các bên ký kết đúng theo quy định của pháp luật. Hợp đồng này có thời hạn hoàn tất hợp đồng. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất công nhận hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V và ông Nguyễn Văn Th là hợp pháp.

Xét thấy, ngày 02/02/2015 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V và ông Nguyễn Văn Th có ký Hợp đồng Tín dụng số 0240/2015/KG/HĐTD-LienVietPostBank để cho ông Th vay số nợ gốc là 50.000.000đ. Trong quá trình vay, ông Th chỉ trả được số tiền gốc là 12.500.000đ và tiền lãi là 3.373.731đ và không thực hiện việc trả nợ gốc và lãi theo định kỳ đã thỏa thuận với Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V là vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định trong hợp đồng. Do vậy, việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V yêu cầu ông Th phải thanh toán nợ cho Ngân hàng là có căn cứ.

Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ chứng minh, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì bị đơn ông Nguyễn Văn Th phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V khi đến hạn.

Về lãi suất: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V yêu cầu tính lãi theo hợp đồng hai bên đã ký kết tạm tính đến ngày 20/06/2022 và lãi phát sinh đến khi thanh toán xong cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì khi các bên ký kết hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về lãi suất, nên Ngân hàng yêu cầu ông Thiên phải chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết là phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V, buộc ông Th có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 20/06/2022 là 86.775.019đ; trong đó: nợ gốc là 37.500.000đ, tiền lãi trong hạn là 5.027.519đ, tiền lãi quá hạn là 44.247.500đ và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Căn cứ khoản 2 Điều 180 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; do nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V có yêu cầu thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông Nguyễn Văn Th, nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng với số tiền là 3.000.000đ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V đã nộp đủ.

- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V được chấp nhận nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu Điện Liên Việt không phải chịu án phí,

Buộc ông Nguyễn Văn Th phải nộp án phí là: 86.775.019đ x 5% = 4.338.753đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 91, Điều 146, Điều 147, Điều 175, Điều 177, Điều 179, Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Căn cứ Điều 9, Điều 25 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Văn Th.

2. Buộc ông Nguyễn Văn Th phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V số tiền tạm tính đến ngày 20/06/2022 là 86.775.019đ (Tám mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi năm ngàn, không trăm mười chín đồng); Trong đó: nợ gốc là 37.500.000đ, tiền lãi trong hạn là 5.027.519đ, tiền lãi quá hạn là 44.247.500đ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng Tín dụng số 0240/2022/KG/HĐTD-LienVietPostBank ngày 02/2/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V và ông Nguyễn Văn Th (không tính lãi phạt chậm trả).

3. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng với số tiền là 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V đã nộp đủ.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: ông Nguyễn Văn Th nộp án phí là: 86.775.019đ x 5% = 4.338.753đ (Bốn triệu, ba trăm ba mươi tám ngàn, bảy trăm năm mươi ba đồng).

Trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B Đ L V số tiền là 2.130.000 (Hai triệu, một trăm ba mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006219, ngày 22 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Th vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ