vanban.org

Bản án 34/2022/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/09/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần y u cầu khởi kiện của các nguy n đơn chị Dương Thị Bvề việc y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA - MB – MC do chị Trần Thị Cẩm Hằng đứng tên quyền s…

Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 481994, số vào sổ cấp GCN: CH05431, cấp ngày 12/01/2017 phần diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, do chị Trần Thị Cẩm H đứng t n đ cấp lại cho các nguy n đơn được đứng tên Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất. Các đương sự đến … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần y u cầu khởi kiện của các nguy n đơn chị Dương Thị Bvề việc y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA - MB – MC do chị Trần Thị Cẩm Hằng đứng tên quyền s…
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
T A N NH N D N
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2022/DS-ST
Ngày: 30-9-2022
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG TH P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Trung Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Đằng;

Ông Huỳnh Văn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diễm Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp.

- ại di n i n i m sát nh n d n t nh ồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phan Trung Quốc - Ki m sát vi n.

Trong ngày 15 và 30 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp t ử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2021/TLST-DS, ngày 28 tháng 10 năm 2021, về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022 QĐXXDS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Bà Dương Thị A, sinh năm: 1962;

2. Ông Dương Văn S, sinh năm: 1961;

3.Bà Dương Thị H, sinh năm: 1976;

4. Bà Dương Thị G, sinh năm: 1978;

5. Bà Dương Thị Ch, sinh năm: 1970;

6. Chị Dương Thị B, sinh năm: 1968;

Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp.

7. Bà Dương Thị L, sinh năm: 1972;

Địa chỉ: xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.

8. Ông Dương Văn B, sinh năm: 1956;

Địa chỉ: khóm A, phường A, TX. H, tỉnh Đ ng Tháp.

9. Ông Dương Văn S, sinh năm: 1958;

Địa chỉ: ấp B, xã V, TX. T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Bà A, ông S, bà H, bà G, bà Ch, bà L, ông B, ông S là: Chị Dương Thị B, sinh năm: 1968 (Có mặt). Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 11 9 2020).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Hà Xuân Ph – Chi nhánh Công ty Luật TNHH MTV Kinh Thương Luật, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H Chí Minh (Có mặt).

Bị đơn: Chị Trần Thị Cẩm H, sinh năm: 1984 (Có mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện T (Có đơn in vắng mặt);

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh N – Chức vụ: Chủ tịch.

Địa chỉ: Khóm 5, TT. Tr, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp.

2. Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1950 (Có đơn in vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp 3, ã P, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp.

3. Chị Phan Thị Th, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Th là: Chị Dương Thị B, sinh năm: 1968 (Có mặt). Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 07 7 2022).

4. Anh Phan Hữu L, sinh năm 1984 (Có đơn in vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp 3, ã Ph, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp.

5. Anh Phan Văn Ph, sinh năm 1983 (Có đơn in vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp 1, thị trấn L, huyện Long Ph, tỉnh Sóc Trăng.

6. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1946;

Người đại diện theo ủy quyền của bà D là: Chị Trần Thị Cẩm H, sinh năm: 1984 (Có mặt). Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, Đ ng Tháp.

7. Ông Lý Văn H, sinh năm 1970;

8. Anh Lý Phước L, sinh năm 2002;

Người đại diện theo ủy quyền của ông H, anh L là: Chị Dương Thị B, sinh năm: 1968 (Có mặt). Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 28 5 2021).

9. Lý Ngọc Nh, sinh ngày 25/9/2012;

Người đại diện theo pháp luật của cháu Nh là: Bà Dương Thị H, sinh năm 1976 và ông Lý Văn H, sinh năm 1970 (Là cha, mẹ của cháu Nhi).

10. Lê Kh, sinh ngày 25/3/2013;

Người đại diện theo pháp luật của cháu Kh là: Bà Dương Thị G sinh năm 1978 (là mẹ của cháu Kh).

Cùng địa chỉ: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn bà A, ông S, bà H, bà G, bà Ch, bà L, ông B, ông S là chị Dương Thị B trình bày:

Bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị V là chị em ruột.

Ông Dương Văn S, sinh năm 1931 (chết năm 1996) và vợ là bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1936 (chết năm 1999) có mười người con là: Dương Thị A, Dương Văn S, Dương Thị H, Dương Thị G, Dương Thị Ch, Dương Thị B, Dương Thị L, Dương Văn B, Dương Văn S và Dương Văn L (T n gọi khác Phan Văn X, chết ngày 17/7/2014).

Ông Dương Văn S và bà Nguyễn Thị V chết không đ lại di chúc.

Ngu n gốc đất tranh chấp diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, đất tọa lạc tại ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp hiện nay do chị Trần Thị Cẩm H đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của ông Ba S sử dụng đ tr ng cà, ớt. Năm 1976, khi gia đình nguy n đơn từ Campuchia về không có chổ ở n n hỏi xin ông Ba S cho đất cất nhà ở cho đến nay. Ban đầu là nhà sàn, mái lá. Đến năm 1991, gia đình ông S, bà V sửa lại nhà có kết cấu nhà sàn cột b tông + gỗ, sàn gỗ, vách gỗ, mái lợp lole như hiện nay và có mở rộng th m. Ngoài ra phía nguy n đơn còn ây chu ng heo năm 2011, chu ng lươn năm 2015, hiện nay không còn nuôi. Khi ây dựng không có ai tranh chấp.

Lý do chưa được cấp quyền sử dụng, vào năm 1993 khi Nhà nước tiến hành thủ tục đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, do không hi u biết về thủ tục đăng ký đất đai n n khi đăng ký thì phát hiện ông Trần Hữu Ngh (cha của chị Trần Thị Cẩm H) đã đăng ký luôn phần đất của gia đình nguy n đơn. Sau đó ông S có gặp ông Ngh y u cầu chuy n trả lại quyền sử dụng nhiều lần nhưng đến nay không trả.

Nay các nguy n đơn y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, tọa lạc tại ấp A, xã P, huyện T thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA - MB – MC do chị Trần Thị Cẩm H đứng t n quyền sử dụng đ cấp lại cho các nguy n đơn. Buộc chị H phải tháo dở một phần nhà tắm diện tích 10,1m2 thuộc phạm vi các mốc F5 – F6- F7 – F8 – F5 đã lấn qua đất tranh chấp thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 2 đ trả lại đất cho các nguy n đơn. Theo Bi n bản em t thẩm định tại chỗ ngày 24 02 2021 của Tòa án nhân dân huyện T và Phụ lục Mãnh trích đo địa chính ngày 20 06 2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và đo đạc Bảo Long. Trường hợp Tòa án t ử chấp nhận y u cầu của nguy n đơn được quyền sử dụng đất, chị B đ ng thời là người đại diện ủy quyền của các nguy n đơn còn lại đ ng ý giao cho cá nhân bà Dương Thị H đứng t n quyền sử dụng. Nếu buộc các nguy n đơn phải trả giá trị đất cho bị đơn, thì bà H có trách nhiệm trả giá trị đất cho bị đơn và bà H được đứng t n quyền sử dụng đất.

Đối với cây tr ng là cây còng, bạch đàn, chị B trình bày do ông S, bà V tr ng n n y u cầu được sử dụng.

Đối với phần nhà tắm do chị H ây dựng, nguy n đơn không đ ng ý b i hoàn giá trị cho bị đơn vì ây dựng tr n đất của nguy n đơn.

Đối với y u cầu phản tố của bị đơn, các nguy n đơn không đ ng ý.

Chị B thống nhất kết quả định giá tài sản tranh chấp theo giá của Hội đ ng định giá vào ngày 09 5 2022 và thống nhất phụ lục bổ sung mãnh trích đo ngày 20/6/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và đo đạc Bảo Long.

Chị Trần Thị Cẩm H là bị đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị V là chị em ruột.

Ngu n gốc đất tranh chấp 463,2m2 là của cha, mẹ chị là ông Trần Hữu Ngh và bà Nguyễn Thị D mua của ông Tư G (hiện nay không rõ ở đâu). Mua năm nào chị H không nhớ. Từ khi mua gia đình chị H chỉ sử dụng một phần, còn một phần cho ông Dương Văn S, bà Nguyễn Thị V ở tạm, khi cha mẹ chị về ở tr n đất năm 1976 thì đã thấy gia đình ông S ở tr n ghe dưới kinh chổ đất tranh chấp n n ông Ngh cho ông S l n bờ cất nhà ở đến nay đã ở tr n 40 năm. Việc cho ở nhờ chỉ nói miệng, lúc đầu là nhà sàn nhỏ, mái lá đến năm 1991, gia đình ông S, bà V sửa lại nhà có kết cấu nhà sàn, sàn gỗ, vách gỗ, mái lợp lole như hiện nay và có mở rộng th m. Ngoài ra phía nguy n đơn còn ây chu ng heo, chu ng lươn, ai ây, ây năm nào thì chị không biết. Gia đình chị không có ngăn cản và tranh chấp vì vẫn tiếp tục cho ở nhờ. Năm 2002, ông Ngh đi k khai đăng ký quyền sử dụng và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13 5 2002, thửa 920, diện tích 700m2 (trong đó 300m2 đất ở nông thôn, 400m2 đất nuôi tr ng thủy sản), tờ bản đ số 02, đất tọa lạc tại ã P, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp. Ngày 23 12 2016, ông Ngh lập hợp đ ng tặng cho toàn bộ thửa 920 cho chị. Ngày 12 01 2017, chị Cẩm H được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chị Trần Thị Cẩm H không đ ng ý đối với y u cầu khởi kiện của các nguy n đơn vì trước đây cha, mẹ chị chỉ cho gia đình các nguy n đơn cất nhà ở tạm. Từ khi gia đình chị được cấp quyền sử dụng năm 2002 đến nay, gia đình chị thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ cho nhà nước .

Nay chị Cẩm H không đ ng ý đối với y u cầu khởi kiện của nguy n đơn. Chị H y u cầu các nguy n đơn di dời nhà, các tài sản vật kiến trúc có tr n đất tranh chấp thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA – MB - MC, diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, tọa lạc tại ấp A, xã P, huyện T đ trả lại đất cho chị. Theo Bi n bản em t thẩm định tại chỗ ngày 24/02 2021 của Tòa án nhân dân huyện T và Phụ lục bổ sung Mãnh trích đo địa chính ngày 20/06/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và đo đạc Bảo Long.

Đối với cây tr ng là cây còng, bạch đàn, chị B trình bày do ông S, bà V tr ng là không đúng mà cây tự mọc. Do cây tự mọc n n chị không tranh chấp, không y u cầu sử dụng hay nguy n đơn phải trả giá trị cho chị.

Đối với phần nhà tắm do chị H ây dựng năm 2008, diện tích 10,1m2 thuộc phạm vi các mốc F5 – F6- F7 – F8 – F5 thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 2 chị ây dựng tr n đất của chị n n không đ ng ý di dời. Trường hợp buộc di dời thì y u cầu nguy n đơn phải b i hoàn giá trị theo bi n bản định giá ngày 09 5 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp.

Chị H thống nhất kết quả định giá tài sản tranh chấp theo giá của Hội đ ng định giá vào ngày 09 5 2022 và thống nhất Phụ lục bổ sung Mãnh trích đo địa chính ngày 20/06/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và đo đạc Bảo Long.

Về chi phí di dời nhà, vật kiến trúc tr n đất: Chị H đ ng ý hổ trợ chi phí di dời cho nguy n đơn nhưng theo khả năng của chị.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Nh, anh Phan Hữu L và anh Phan Văn Phtrình bày:

Bà Nh, anh L và anh Ph (là vợ và con của ông L) thống nhất toàn bộ theo yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn, đ ng ý theo quyết định của chị Dương Thị B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện T trình bày: Ủy ban đề nghị Tòa án nhân dân Tỉnh Đ ng Tháp xét xử vụ án theo đúng quy định pháp luật.

- Tại phi n tòa sơ thẩm:

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguy n đơn trình bày: Ngu n gốc đất tranh chấp là của ông Ba S cho gia đình chị B ở từ năm 1976 cho đến nay. Vào năm 1976, ông Ngh không có chổ ở mà ở nhờ nhà của ông Kh (ở Kênh Cục Mỹ Long) và nuôi mẹ của bà V nên ông S kêu ông Ngh về cất nhà ở cạnh đất tranh chấp. Bị đơn không có chứng cứ chứng minh là cho gia đình chị B ở nhờ và các nguy n đơn cũng không thừa nhận là ở nhờ đất của ông Ngh. Hơn nữa bị đơn cũng không có chứng cứ chứng minh đất tranh chấp có ngu n gốc từ việc ông Ngh nhận chuy n nhượng của ông Tư G. Các người làm chứng như ông Võ Văn L, bà H Thị L, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn H ng V, ông Võ Văn B đều ác định đất tranh chấp có ngu n gốc của ông Ba S và cho gia đình ông S ở từ năm 1976 cho đến nay và hiện nay ông Bé (con ông S) không tranh chấp với các nguy n đơn. Từ khi sử dụng đất từ năm 1976 cho đến nay, các nguy n đơn có sửa nhà có mở rộng diện tích, xây dựng chu ng nuôi heo, chu ng lươn nhưng gia đình ông Ngh không có ý kiến ngăn cản hay tranh chấp. Đến năm 1993, ông S đi k khai đăng ký thì phát hiện ông Ngh đã đi k khai, ông S có gặp ông Ngh trao đổi, ông Ngh nói là đăng ký dùm ông S. Nhưng từ năm 1993 cho đến nay, ông Ngh không trả lại quyền sử dụng đất cho ông S nên phát sinh tranh chấp. Từ những phân tích tr n, đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

+ Chị B trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, tọa lạc tại ấp Phú Thọ A, xã Phú Thọ, huyện T thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA- MB – MC do chị Trần Thị Cẩm H đứng tên quyền sử dụng đ cấp lại cho các nguy n đơn. Buộc chị H phải tháo dở một phần nhà tắm diện tích 10,1m2 thuộc phạm vi các mốc F5 – F6- F7 – F8 – F5 đã lấn qua đất tranh chấp thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 2 đ trả lại đất cho các nguyên đơn.

+ Chị Cẩm H trình bày không đ ng ý đối với yêu cầu khởi kiện của các nguy n đơn. Chị H yêu cầu các nguy n đơn di dời nhà, các tài sản vật kiến trúc có tr n đất tranh chấp thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA – MB – MC, diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, tọa lạc tại ấp Phú Thọ A, xã Phú Thọ, huyện T đ trả lại cho chị và không đ ng ý di dời nhà tắm theo yêu cầu của nguy n đơn. Theo Bi n bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện T và Phụ lục bổ sung Mãnh trích đo địa chính ngày 20/06/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và đo đạc Bảo Long.

Đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Đ ng Tháp ý kiến về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phi n tòa Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký, các đương sự đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu của các nguy n đơn, hủy một phần Giấy chứng nhận QSD đất của bị đơn đối với phần diện tích đất tranh chấp 463,2m2 thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA- MB – MC do chị Trần Thị Cẩm H đứng t n đ cấp lại cho các nguy n đơn. Buộc chị Trần Thị Cẩm H tháo dở một phần nhà tắm diện tích 10,1m2 thuộc phạm vi các mốc F5 – F6- F7 – F8 – F5 đã ây cất lấn qua đất tranh chấp. Buộc các nguy n đơn phải có trách nhiệm trả giá trị nhà vệ sinh theo giá Hội đ ng định giá ngày 09/5/2022 cho chị Trần Thị Cẩm H.

Về án phí và chi phí em t thẩm định tại chỗ, định giá quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghi n cứu các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án được thẩm tra tại phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phi n tòa, lời phát bi u của Ki m sát vi n, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Hội đ ng t ử nhận định:

Về tố tụng: Do đất tranh chấp được cha các nguy n đơn là ông Dương Văn S (đã chết năm 1996 không đ lại di chúc) nên các nguy n đơn khởi kiện đối với chị Trần Thị Cẩm H tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất và phải em t yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định nên Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm đ giải quyết theo thẩm quyền được qui định tại Điều 34 Bộ Luật tố tụng dân sự. Bà A, ông S, bà H, bà G, bà Ch, bà L, ông B, ông S, chị Th, ông H, anh L ủy quyền cho Chị B; Bà D ủy quyền cho chị Cẩm H tham gia tố tụng; bà Nh, anh L, anh Ph và đại diện Ủy ban nhân dân huyện T có văn bản in t ử vắng mặt, thủ tục phù hợp quy định n n chấp nhận.

Về nội dung:

Ngu n gốc đất tranh chấp:

Về quan hệ gia đình của các đương sự thì bà Nguyễn Thị D (mẹ chị H) là em ruột của bà Nguyễn Thị V (mẹ của các nguy n đơn). Ông Trần Hữu Ngh là em bạn rễ của ông Dương Văn S.

Đại diện các nguy n đơn chị Nguyễn Thị B trình bày ngu n gốc đất tranh chấp 463,2m2 là của ông Võ Văn S (còn gọi Ba S hiện bị mất trí nhớ do tuổi cao sức yếu) khai phá sử dụng từ trước 1975. Năm 1976 khi gia đình bà từ Campuchia về không có chổ ở n n được ông Ba S cho ở (được ông B là con ông S xác nhận tại phiên tòa) và được nhà nước đ ng ý n n đã cất nhà ở trên đất tranh chấp từ 1976 đến nay tr n 45 năm, việc được ông Ba S và nhà nước cho ở tr n đất không có giấy tờ. Chị H trình bày đất có ngu n gốc là của cha chị là ông Trần Hữu Ngh mua của ông Tư G (không rõ họ, t n, địa chỉ, hiện nay còn sống hay chết), mua năm nào và có giấy tờ mua không chị không biết, hiện cũng không có giấy tờ mua bán đ chứng minh.

Đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, tọa lạc tại ấp A, xã P, huyện T thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA - MB – MC theo Phụ lục Mãnh trích đo địa chính ngày 20/06/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và đo đạc Bảo Long do chị Trần Thị Cẩm H hiện đứng tên quyền sử dụng do ông Ngh tặng cho năm 2017 tổng diện tích 700m2, trong đó đất ở 300m2, đất nuôi tr ng thủy sản 400m2.

Xét thấy, theo biên bản lấy lời khai người làm chứng là ông Võ Văn B (là con của ông Võ Văn S) ác định đất tranh chấp là của cha ông (ông Ba S) khai phá trước năm 1975 đ tr ng cà. Sau năm 1975, người Việt Nam từ Campuchia về không có chổ ở nên Ủy ban xã B (nay là xã Phú Thọ) bố trí cho họ ở tr n đất của gia đình ông, trong đó có gia đình ông S, bà V. Điều này cũng phù hợp với lời khai của những người làm chứng là bà Nguyễn Thị D, ông Võ Văn L, bà H Thị L và ông Nguyễn H ng V là những người ở cạnh đất tranh chấp cũng ác định đây là đất của ông Ba S khai phá trước năm 1975 đ tr ng cà và cho ông S về ở từ 1976 đến nay. Ngoài ra, tại công văn số 305/UBND-NC ngày 03/03/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T và công văn số 331/UBND ngày 26/7/2022, công văn số 482/UBND-NC này 30/09/2022 của Ủy ban nhân dân xã P đều ác định đất tranh chấp có ngu n gốc của ông Ba S nhưng khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Hữu Ngh không tiến hành đo đạc, từ đó có th xác định khi cấp Giấy CNQSD đất cho ông Ngh đã không đo đạc thực tế nên đã không phát hiện căn nhà của gia đình ông S cất từ năm 1976 đến nay tr n 45 năm n n việc cấp đất cho ông Ngh đối với diện tích đất ông S sử dụng là chưa đảm bảo đúng qui định. Từ những phân tích tr n có cơ sở ác định đất tranh chấp có ngu n gốc của ông Ba S cho ông S và gia đình cất nhà sinh sống từ 1976 đến nay tr n 45 năm và không có ai khởi kiện tranh chấp là có căn cứ. Do đó lời trình bày của các nguy n đơn trình bày về ngu n gốc đất tranh chấp là phù hợp các chứng cứ trong h sơ và có căn cứ chấp nhận. Bị đơn chị Cẩm H ác định ngu n gốc đất là của ông Ngh mua của ông Tư G nhưng không có gì chứng minh, mặc khác chị thừa nhận cha và mẹ chị về ở cạnh diện tích tranh chấp 463,2m2 khoảng 1976 – 1977 sau khi ông S và gia đình về ở (tức ông S về ở trước gia đình chị) nhưng khi đó ông S và gia đình sống tr n ghe đậu dưới bờ kinh chứ chưa l n bờ cất nhà sinh sống, sau đó cha chị là ông Ngh mới kêu ông S (anh em bạn r với ông Ngh) cùng gia đình l n ở nhờ tr n đất tranh chấp cất nhà ở đến nay. Tuy nhiên, việc cho ở nhờ không có giấy tờ chứng minh và nay chị H cũng chỉ nghe mẹ chị là bà D k lại. Lời trình bày của chị H không được các nguyên đơn thừa nhận do đó lời trình bày của bị đơn không th là chứng cứ chứng minh đ xem xét, chấp nhận.

Quá trình sử dụng đất:

Đại diện các nguy n đơn là chị B trình bày gia đình các nguy n đơn năm 1976 từ Campuchia về Việt Nam không có chổ ở n n được ông Ba S cho ở và nhà nước đ ng ý cho cất nhà ở tr n đất từ năm 1976 cho đến nay, qua nhiều lần sửa nhà có mở rộng thêm và xây dựng các công trình kiên cố như chu ng nuôi heo, chu ng nuôi lươn nhưng không ai ngăn cản hay tranh chấp. Từ năm 1976 cho đến khi phát sinh tranh chấp năm 2020 gia đình chị không quan tâm chủ trương đăng ký kê khai nên không k khai đăng ký và do nghĩ cha chị (ông S) lúc còn sống đã nhờ ông Ngh đi đăng ký dùm sau khi đứng tên sẽ chuy n lại cho ông S phần diện tích ông S đã sử dụng từ 1976 và sau khi ông Ngh được cấp quyền sử dụng nhưng không chịu sang tên lại cho ông S nên sau đó các nguy n đơn phát sinh tranh chấp.

Bị đơn trình bày gia đình nguy n đơn được ở tr n đất là do không có chổ ở khác nên có hỏi ông Ngh xin ở nhờ nên khi nguy n đơn xây, sửa nhà, xây dựng các công trình kiên cố bị đơn đã không tranh chấp, việc cho ở nhờ không có làm giấy tờ nên không có gì chứng minh.

Xét thấy tại biên bản ghi lời khai ngày 22/4/2022, chị B trình bày đất là của ông Ba S và ông Ba S cho gia đình chị đ ở luôn cho đến nay, tại biên bản ghi lời khai ngày 22/04/2022 chị B và chị H đều xác định từ trước cho đến nay đất tranh chấp không được Nhà nước đưa vào tập đoàn.

Ngoài ra, khi ông Ngh đi k khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 13/5/2002, diện tích 700m2 (trong đó có 300m2 đất ở, 400m2 đất nuôi tr ng thủy sản), thửa 920, tờ bản đ số 02, tọa lạc tại xã Phú Thọ, huyện T. Đến ngày 23/12/2016, ông Ngh lập hợp đ ng tặng cho toàn bộ thửa đất nêu trên cho chị Trần Thị Cẩm H. Ngày 12/01/2017 chị H được Ủy ban nhân dân huyện T cấp quyền sử dụng đất. Từ khi chị H được cấp quyền sử dụng năm 2017 đến năm 2020 các nguyên đơn biết n n đã khởi kiện yêu cầu được sử dụng và đứng tên Quyền sử dụng đối với đất tranh chấp với bị đơn.

Tại phiên tòa Chị B, chị H thống nhất Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, Phụ lục bổ sung Mãnh trích đo địa chính ngày 20/06/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và đo đạc Bảo Long và thống nhất kết quả định giá tài sản tranh chấp theo giá của Hội đ ng định giá vào ngày 09/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp.

Ủy ban nhân dân huyện T có văn bản số 305/UBND-NC ngày 02/03/2022 ác định giấy chứng nhận QSD đất đối với phần đất tranh chấp này cho bị đơn là đảm bảo đúng đối tượng người sử dụng đất và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tại thời đi m cấp giấy chứng nhận QSD đất. Tuy nhiên, theo các nội dung đã phân tích tr n thì việc cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ngh (cha bị đơn) sau khi đất tranh chấp đã được gia đình nguy n đơn sử dụng từ năm 1976 đến nay tr n 45 năm là chưa đảm bảo theo pháp luật về người đã sử dụng đất ổn định liên tục tr n 30 năm mà không có tranh chấp và chính sách quản lý đất đai qua các thời kỳ nên yêu cầu khởi kiện của các nguy n đơn về việc công nhận QSD đất đối với diện tích đất tranh chấp 463,2m2 và hủy một phần giấy chứng nhận QSD đất của bị đơn là có cơ sở đ chấp nhận. Chị H yêu cầu các nguy n đơn di dời nhà, các tài sản vật kiến trúc có tr n đất tranh chấp diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920 đ trả lại cho chị theo như nội dung đã phân tích tr n là không phù hợp nên không chấp nhận.

Xét đại diện các nguy n đơn y u cầu chị H phải tháo dở một phần nhà tắm diện tích 10,1m2 thuộc phạm vi các mốc F5 – F6 - F7 – F8 – F5 đã lấn qua đất tranh chấp thuộc một phần thửa 920 đ trả đất lại cho các nguyên đơn. Như nhận định trên, khi chị H, bà Duỗi xây dựng nhà tắm đã lấn qua ranh giới giữa hai phần đất đã được gia đình các nguy n đơn sử dụng ổn định tr n 45 năm nên cần buộc di dời, giữ nguyên hiện trạng ranh đất đã t n tại theo phụ lục bổ sung mãnh trích đo ngày 20 06 2022. Do đó, cần buộc bị đơn di dời nhà tắm theo diện tích và các mốc tr n theo sơ đ trích đo ngày 20 06 2022, do các nguy n đơn không tranh cản việc bị đơn ây dựng và sử dụng nên các nguyên đơn phải trả giá trị đã ây cất cho bị đơn theo danh mục tài sản định giá kèm theo biên bản định giá ngày 09/05/2022 của Tòa án tỉnh Đ ng Tháp là 15.815.300đ ng.

Đối với cây tr ng tr n đất như còng, bạch đàn. Phía đại diện các nguy n đơn trình bày do gia đình các nguy n đơn tr ng nên yêu cầu được tiếp tục sử dụng. Nhưng bị đơn trình bày không ai tr ng mà cây tự mọc, bị đơn không yêu cầu gì đối với cây tr ng này, nếu nguy n đơn được sử dụng đất thì chị H cũng không y u cầu nguy n đơn phải trả giá trị về cây tr ng. Ngoài ra, các người làm chứng như ông L, bà D, ông V cũng ác định cây tự mọc. Do nguy n đơn được tiếp tục sử dụng đất n n được tiếp tục sử dụng cây tr ng mà không phải trả giá trị lại cho bị đơn.

X t đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có căn cứ nên chấp nhận một phần đề nghị.

X t đề nghị của Đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Đ ng Tháp là có cơ sở n n chấp nhận.

6 Án phí dân sự sơ thẩm: Do y u cầu khởi kiện của nguy n đơn được chấp nhận một phần nên không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần được chấp nhận nhưng chịu án phí đối với phần tiền phải trả giá trị b i hoàn nhà tắm cho bị đơn di dời.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do y u cầu phản tố không được chấp nhận.

7 Chi phí em t thẩm định tại chỗ và định giá: Chi phí thẩm định đo đạc và định giá là 4.564.000 đ ng do bị đơn không được chấp nhận yêu cầu phản tố nên chịu. Do nguy n đơn tạm ứng là 1.884.000 đ ng, chị H tạm ứng là 2.680.000 đ ng và đã chi ong. Nên bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn 1.884.000 đ ng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 34, 91, 92, 147, 157, 165, 227, 228, 229, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 32 Luật tố tụng hành chính;

Các Điều 163, 164, 166 và 189 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Các Điều 100, Điều 166 và Điều 203 của Luật Đất Đai.

Căn cứ Nghị quyết số: 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuy n ử

1. Chấp nhận một phần y u cầu khởi kiện của các nguy n đơn chị Dương Thị Bvề việc y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA - MB – MC do chị Trần Thị Cẩm Hằng đứng tên quyền sử dụng đ cấp lại cho các nguy n đơn bà Dương Thị A, ông Dương Văn S, bà Dương Thị H, bà Dương Thị G, bà Dương Thị Ch, chị Dương Thị B, bà Dương Thị L, ông Dương Văn B, ông Dương Văn S đứng tên quyền sử dụng.

Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 481994, số vào sổ cấp GCN: CH05431, cấp ngày 12/01/2017 phần diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, do chị Trần Thị Cẩm H đứng t n đ cấp lại cho các nguy n đơn được đứng tên Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất.

Các đương sự đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đ k khai, điều chỉnh, đăng ký biến động đối với diện tích đất còn lại và diện tích được công nhận; loại đất, thửa đất, tờ bản đ … do cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai địa phương quy định. Đương sự chịu trách nhiệm nộp các khoản thu của Nhà nước theo quy định của pháp luật (nếu có).

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Trần Thị Cẩm H về việc yêu cầu các nguy n đơn di dời nhà, các tài sản vật kiến trúc có tr n đất tranh chấp thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA – MB - MC, đ giao lại diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản đ số 02, tọa lạc tại ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp.

Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 463,2m2, thuộc một phần thửa 920, tờ bản só 02 thuộc phạm vi các mốc MC – MD – MA- MB – MC do chị Trần Thị Cẩm H đứng tên quyền sử dụng theo giấy chứng nhận số CE 481994, số vào sổ cấp GCN: CH05431, cấp ngày 12/01/2017 cho các nguy n đơn bà Dương Thị A, ông Dương Văn S, bà Dương Thị H, bà Dương Thị G, bà Dương Thị Ch, chị Dương Thị B, bà Dương Thị L, ông Dương Văn B, ông Dương Văn S được quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Buộc chị Trần Thị Cẩm H và bà Nguyễn Thị D di dời một phần nhà tắm diện tích 10,1m2 thuộc phạm vi các mốc F5 – F6 - F7 – F8 – F5, đ giao diện tích 10,1m2 cho các nguy n đơn được sử dụng, các nguy n đơn g m: bà Dương Thị A, ông Dương Văn S, bà Dương Thị H, bà Dương Thị G, bà Dương Thị Ch, bà Dương Thị B, bà Dương Thị L, ông Dương Văn B, ông Dương Văn S phải hoàn trả giá trị phần nhà tắm có diện tích 10,1m2 cho chị Trần Thị Cẩm H với số tiền là 15.815.300đ ng (Mười lăm triệu tám trăm mười lăm nghìn ba trăm đ ng)

(Đính k m bi n bản định giá ngày 09/5 2022 và sơ đ đo đạc ngày 20 6 2022 ác định vị trí các mốc).

K từ ngày có đơn y u cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án ong, b n phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Trần Thị Cẩm H chịu 7.282.800 đ ng án phí dân sự sơ thẩm. Chị H đã nộp tạm ứng án phí 4.516.000đ ng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016205 ngày 04/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T nên chị còn nộp tiếp số tiền 2.766.800đ ng.

Các nguy n đơn bà Dương Thị A, ông Dương Văn S, bà Dương Thị H, bà Dương Thị G, bà Dương Thị Ch, chị Dương Thị B, bà Dương Thị L, ông Dương Văn B, ông Dương Văn S phải chịu 790.700 đ ng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 5.553.000 đ ng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010363 ngày 26/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T và biên lai số 0004573 ngày 30/12/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đ ng Tháp. Các nguy n đơn được nhận lại 5.026.300 đ ng.

5. Chi phí em t thẩm định tại chỗ: Bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm tại chỗ và định giá tổng cộng là 4.564.000 đ ng. Nguy n đơn tạm ứng là 1.884.000 đ ng, bị đơn tạm ứng là 2.680.000 đ ng và đã chi ong. N n bị đơn phải trả lại cho nguy n đơn 1.884.000 đ ng.

Trong thời hạn 15 ngày k từ ngày tuy n án các đương sự được quyền kháng cáo l n Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố H chí Minh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PH N

CHỦ TỌA PHIÊN T A

Huỳnh Văn Hoàng – Trần Ngọc Đằng

Trần Trung Thành

Cỡ chữ