- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn Non E - Nguyễn Văn Tr"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Non E, chị Nguyễn Thị Bé L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/DS-ST Ngày: 16-8-2022 “ V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
2. Ông Võ Văn Liềm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao không tham gia phiên toà.
Ngày 16 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 114/2022/TLST-DS, ngày 12 tháng 7 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXX-ST ngày 02 tháng 8 năm 2022 giữa:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Non E, sinh năm 1986
Chị Nguyễn Thị Bé L, sinh năm 1986
Cùng địa chỉ: ấp M, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1989
Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2022, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Non E, chị Nguyễn Thị Bé L trình bày như sau:
Vào ngày 26/8/2021 âm lịch vợ chồng anh chị có cho anh Nguyễn Văn Tr vay số tiền là 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng) giữa hai bên có làm biên nhận nợ cùng ký tên, nhưng không có ghi lãi suất trong biên nhận nợ mà chỉ thỏa thuận bằng miệng 5%/ tháng, khi bên anh muốn lấy vốn phải báo cho anh Tr biết trước ba tháng. Tuy nhiên, từ ngày nhận tiền đến nay phía anh Tr không đóng lãi và cũng không trả vốn cho vợ chồng anh khoản nào. Vợ chồng anh có yêu cầu anh Tr trả nợ nhiều lần nhưng anh Tr chỉ hẹn mà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên đến ngày 04/3/2022 vợ chồng anh có làm đơn yêu cầu Ban lãnh đạo ấp giải quyết, tại biên bản hòa giải ấp P, xã V ngày 30/5/2022 anh Tr vẫn thừa nhận nợ 80.000.000đồng và xin hẹn trả dần mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi hết nợ, số tiền nợ này là do một mình anh Tr nợ, không liên quan đến ai. Tuy nhiên, anh Tr vẫn không thực hiện lời hứa trả nợ theo biên bản ngày 30/5/2022 nên vợ chồng anh chị khởi kiện đến Tòa án.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn Non E yêu cầu Tòa án giải quyết buộc một mình anh Nguyễn Văn Tr phải trả cho vợ chồng anh số tiền nợ gốc 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng) và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày 26/8/2021 âm lịch đến ngày 19/7/2022 âm lịch (Ngày 16/8/2022) là 10 tháng 22 ngày x 80.000.000đồng x 0,75% = 6.440.000đồng, yêu cầu trả đủ gốc và lãi một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, anh không yêu cầu gì thêm.
Tại bản tự khai đề ngày 19/7/2022, tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn Tr trình bày như sau: Anh thừa nhận trước đây anh có vay của vợ chồng anh Non E số tiền là 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) vào tháng 9/2020. Sau này do anh không có tiền đóng lãi nên mới lãi nhập vốn và anh lấy thêm 18.000.000đồng (mười tám triệu đồng), tính tổng bằng 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng) và anh có ký biên nhận nợ cho anh Non E vào ngày 26/8/2021. Tuy nhiên, việc nhập lãi thành vốn thì anh cũng không có giấy tờ gì chứng minh và anh cũng không yêu cầu Tòa án xem xét lại việc lãi nhập vốn này. Nội dung trong biên nhận nợ ngày 26/8/2021 không có ghi lãi suất, nhưng giữa anh với phía vợ chồng anh Non E có thỏa thuận lãi suất bằng miệng. Mục đích anh vay tiền của anh Non E là để bù lỗ cho việc anh thuê xe cuốc trong lúc dịch bệnh Covid năm 2021 không làm được nên anh mất khả năng thanh toán nợ gốc và lãi cho vợ chồng anh Non E. Số tiền này là do một mình anh nợ không liên quan đến ai. Tại biên bản hòa giải ấp Phước An ngày 30/5/2022 anh có hẹn trả mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng), tuy nhiên do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên anh chưa có khả năng trả nợ cho vợ chồng anh Non E được.
Nay vợ chồng anh Non E, chị Bé L kiện yêu cầu anh trả nợ, anh vẫn thừa nhận và đồng ý trả cho vợ chồng anh Non E số tiền 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng) nhưng cho anh xin trả dần mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi hết nợ, anh xin không tính lãi. Ngoài ra, anh không yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa anh Nguyễn Văn Non E, chị Nguyễn Thị Bé L và anh Nguyễn Văn Tr là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn có địa chỉ tại ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang nên Tòa án nhân dân huyện Gò Quao thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Nguyễn Thị Bé L là nguyên đơn trong vụ án nhưng chị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị, xét việc vắng mặt chị L không gây trở ngại khi xét xử vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án vẫn được xét xử là phù hợp.
Về nội dung: ngày 26/8/2021 anh Nguyễn Văn Tr có vay của vợ chồng anh Nguyễn Văn Non E, chị Nguyễn Thị Bé L số tiền 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng), anh Tr có ký biên nhận nợ. Do anh Tr không trả nợ nên anh Non E, chị Bé L khởi kiện yêu cầu trả nợ. Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa anh Tr vẫn thừa nhận nợ và đồng ý trả cho vợ chồng anh Non E, chị Bé L số tiền 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng) nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của anh Tr, anh thừa nhận và đồng ý trả cho anh Non E, chị Bé L số tiền 80.000.000đồng. Tuy nhiên, anh Tr cho rằng do hoàn cảnh kinh tế gia đình của anh hiện nay rất khó khăn không có khả năng trả đủ số tiền nợ một lần cho anh Non E, chị Bé L và anh xin trả dần mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi hết nợ. Đồng thời, anh Tr cũng không đồng ý trả lãi theo yêu cầu của anh Non E, chị Bé L. Yêu cầu của anh Tr không được anh Non E đồng ý vì anh Non E cho rằng số tiền này anh Tr nợ đã lâu và anh Tr đã từng hẹn khi Ban lãnh đạo ấp giải quyết ngày 30/5/2022 nhưng anh Tr vẫn không thực hiện, do đó anh Tr phải có nghĩa vụ trả đủ nợ gốc và lãi cho vợ chồng anh. Xét thỏa thuận giữa vợ chồng anh Non E với anh Tr về nội dung vay tiền trên cơ sở tự nguyện, phù hợp quy định tại Điều 463 Bộ Luật dân sự năm 2015 nên phát sinh hiệu lực thi hành. Do anh Tr vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên anh Tr phải có nghĩa vụ trả nợ gốc 80.000.000đồng và lãi suất theo yêu cầu của vợ chồng anh Non E từ ngày 26/8/2021 âm lịch đến ngày 19/7/2022 âm lịch (Ngày 16/8/2022) bằng 10 tháng 22 ngày x 80.000.000đồng x 0,75% = 6.440.000đồng là phù hợp quy định tại Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của anh Non E, chị Bé L là có cơ sở chấp nhận.
Anh Tr khai anh vay của vợ chồng anh Non E vào tháng 9/2020 là 20.000.000đồng, do anh không có tiền đóng lãi nên mới lãi nhập vốn và anh lấy thêm 18.000.000đồng (mười tám triệu đồng), tính tổng bằng 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng) và anh có ký biên nhận nợ cho anh Non E vào ngày 26/8/2021. Tuy nhiên, lời khai của anh Tr không được anh Non E thống nhất, đồng thời anh Tr cũng không có giấy tờ gì chứng minh và anh Tr cũng không yêu cầu Tòa án xem xét lại việc lãi nhập vốn này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: 86.440.000đồng x 5% = 4.322.000đồng buộc anh Tr phải nộp.
Yêu cầu của anh Non E, chị Bé L được chấp nhận nên hoàn trả lại tiền tạm ứng phí mà anh Non E đã nộp là 2.900.000đồng theo biên lai thu tiền số 0008990 ngày 12/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 26, 35, 39, 92, 147, khoản 1 Điều 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Non E, chị Nguyễn Thị Bé L.
Buộc: anh Nguyễn Văn Tr phải có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Văn Non E, chị Nguyễn Thị Bé L số tiền 86.440.000đồng (Tám mươi sáu triệu, Bốn trăm bốn mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày anh Non E, chị Bé L có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Tr chưa trả đủ số tiền nêu trên thì anh Tr còn phải chịu lãi suất theo mức lãi quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm là: 4.322.000đồng (Bốn triệu ba trăm hai mươi hai ngàn đồng) buộc anh Tr phải nộp.
Hoàn trả lại tiền tạm ứng phí mà anh Nguyễn Văn Non E, chị Nguyễn Thị Bé L đã nộp là 2.900.000đồng (Hai triệu chín trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008990 ngày 12/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án ngày 16/8/2022. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKS Gò Quao; -Chi cục THA; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Danh Thị Kiều Oanh |