- Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần u cầu kháng cáo của anh L Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 148 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố t ng dân sự
| T A ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2022/DS-PT Ngày: 24-01-2022 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngu n Ng c V ng.
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Tấn Lợi;
Ông Đinh Chí Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngu n Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Ngu n Ng c Trang - i m sát vi n tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 12/01 và 24/01/2022, t i tr s Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai v án th lý số 75/2021/TLPT-DS ngày 19 tháng 5 năm 2021, về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2021/DS-ST ngày 26/3/2021 của Tòa án nhân dân hu ện B bị kháng cáo.
Theo Qu ết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 158/2021/QĐ-PT ngày 31 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Ngu n đơn: Anh Võ Ng c C, sinh năm 1987; địa ch : ấp Đ, xã B, hu ện H, t nh i n Giang. (Có mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Anh L Văn S, sinh năm 1987; địa ch : hóm A, thị trấn T, hu ện B, t nh Đồng Tháp. (Có mặt ngày 12/01/2022, vắng mặt ngày 24/01/2022)
2.2. Anh Cao Văn L, sinh năm 1983; địa ch : Ấp T, xã C, hu ện N, t nh An Giang. (Vắng mặt)
3. Người kháng cáo: Anh L Văn S - Là bị đơn trong v án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Anh Võ Ngọc C trình bày: Vào ngày 09 - 16/9/2019, anh L Văn S cùng anh Cao Văn L đến mua lúa của anh C với số lượng 584.478kg, nhân với giá 4.600đ/kg, tổng số tiền là 2.690.000.000 đồng, anh S cùng anh L đã trả cho anh 2.295.000.000 đồng, còn thiếu l i 395.000.000 đồng. Anh C u cầu anh S, anh L li n đới trả tiền mua lúa còn thiếu 395.000.000đ và u cầu tính lãi từ ngà 16/9/2019 cho đến ngà xét xử.
- Anh Lê Văn S trình bày: Anh làm nghề trung gian thu mua lúa, anh cùng anh Cao Văn L, sinh năm 1983, ng ấp ấp T, xã C, hu ện N, t nh An Giang, thỏa thuận hợp tác thu mua lúa bán l i đ kiếm lời. Anh và anh L thỏa thuận nếu có lợi nhuận thì chia đôi, nếu thua lỗ thì mỗi người chịu trách nhiệm đối với ½ tr n tổng số tiền thua lỗ. Ngày 16/9/2019, anh và anh L thu mua lúa của anh Võ Ng c C đ bán l i cho Công t T, tr s t i hu ện N, t nh cần Thơ, c th như sau: Mua lúa của anh C số lượng 584.478kg, giá 4.600đ/kg, thành tiền 2.690.000.000đ.
Việc li n hệ, lập hợp đồng với Công ty T do anh L ph trách, anh ch biết giá tiền thỏa thuận là 4.700đ/kg. Sau khi anh và anh L thu mua lúa xong, phía đ i diện Công ty T là chị Ngu n Thị Thanh T trực tiếp ki m hàng và cùng anh ch lúa về công t đ nhận tiền trả cho anh C. Tuy nhi n, khi đến công ty thì công ty không có tiền đ chi trả n n nông dân không đồng ý giao lúa mà giữ l i dưới ghe, sau đó 02 ngà , do sợ lúa hư hỏng n n anh và anh L làm tờ bảo lãnh cho công t đ công t được nhận lúa.
hoảng 30 ngà sau, Công ty T trả tiền lúa, công t báo trong số lúa đã mua có 569 tấn bị ẩm vàng, n n ch trả tiền với giá 4.200đ/kg, thấp hơn 500đ so với giá thỏa thuận ban đầu 4.700đ, dẫn đến anh và anh L bị lỗ hết gần 250.000.000đ, việc nà các nông dân bán lúa cho anh đều biết, vì hôm đó h đến công t nhận tiền cùng anh. Đồng thời, Công ty T lấ lý do anh L không giao số lúa còn l i như thỏa thuận, n n công t giữ l i 500.000.000đ, nhưng thực tế là do công t g i điện tho i báo cho chị T sẽ không nhận lúa của anh và anh L nữa. Chị T g i điện báo l i cho anh và anh L, nên anh và anh L phải tìm công t khác bán số lúa đã mua đ lấ tiền trả cho nông dân, chứ không phải anh và anh L có lúa mà không giao cho Công ty T.
Do thua lỗ và hiện còn bị Công ty T giữ l i số tiền 500.000.000đ, anh và anh L ch có khả năng trả cho anh C 2.295.000.000đ, còn nợ l i 395.000.000đ.
Số tiền còn nợ l i của anh C, anh thống nhất sau khi anh giải qu ết và nhận được tiền từ Công ty T anh sẽ chịu trách nhiệm hoàn trả ½ tr n tổng số nợ. Hiện t i do công t chưa thanh toán tiền cho anh n n anh không có tiền đ hoàn trả.
- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Cao Văn L vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến.
- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân hu ện B đã qu ết định:
Chấp nhận u cầu kh i kiện của anh Võ Ng c C
Buộc buộc anh L Văn S, anh Cao Văn L có trách nhiệm li n đới trả cho anh Võ Ng c C số tiền mua lúa còn thiếu là 455.542.967 đồng. Trong đó vốn 395.000.000 đồng, lãi 60.542.967 đồng.
từ ngà tiếp theo của ngà xét xử sơ thẩm cho đến thi hành án xong, b n phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qu định t i khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh L Văn S, anh Cao Văn L có trách nhiệm li n đới chịu 22.777.148 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Võ Ng c C không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả 9.875.000 đồng tiền t m ứng án phí anh C đã nộp theo bi n lai thu số BI/2019/0006760, qu n số 0136 ngà 13/10/2020, t i Chi c c Thi hánh án dân sự hu ện B, t nh Đồng Tháp.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tu n về qu ền và thời h n kháng cáo của các đương sự, qu ền và ngh a v của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án của các đương sự theo qu định của pháp luật.
- Ngày 08/4/2021, anh L Văn S kháng cáo không đồng ý chịu trách nhiệm li n đới với anh Cao Văn L trả cho anh Võ Ng c C số tiền mua lúa còn thiếu là 455.542.967đ.
- T i phi n tòa phúc thẩm:
+ Anh Võ Ng c C trình bà : Giữ ngu n u cầu kh i kiện, không cung cấp bổ sung chứng cứ mới và u cầu giữ ngu n qu ết định của bản án sơ thẩm.
+ Anh L Văn S trình bà : Anh S không đồng ý li n đới cùng với anh L trả cho anh C số tiền 455.542.967đ. Lý do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét k thỏa thuận mua bán lúa giữa anh S với anh L; việc mua bán thua lỗ và bị Công ty T giữ l i số tiền 500.000.000đ.
+ Đ i diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp ý kiến về giải qu ết v án:
Về tố t ng: Từ khi th lý v án đến t i phi n tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố t ng đã thực hiện đúng qu định của Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Quá trình th lý, giải qu ết của Tòa cấp sơ thẩm chưa đúng theo qu định Bộ luật TTDS.
Qua ki m sát hồ sơ của Tòa cấp sơ thẩm, có Tờ tự khai của anh S ngày 21/11/2020 (bút l c 23) và Đơn xin vắng mặt của anh S ngày 24/3/2021 (bút l c 55A) đều là bản photo nhưng Bi n bản phi n tòa sơ thẩm và Bản án sơ thẩm số 28 ngà 26/3/2021 nhận định là tài liệu chứng cứ cho là anh S có đơn xin xét xử vắng mặt và có văn bản trình bà ý kiến là chưa đúng qu định theo Điều 95 BLTTDS.
V án th lý ngà 19/10/2020 nhưng qua thu thập bổ sung của Tòa cấp phúc thẩm, t i Công văn số 95 ngà 6.6.2021 và số 108 ngà 14.7.2021 của Công an thị trấn C, hu ện N, t nh An Giang, anh Cao Văn L có đăng ký H TT t i ấp T, xã C, hu ện N, t nh An Giang (na khóm T, thị trấn C). Hộ khẩu thường trú của anh L gồm anh L, vợ là L Thị M P, con là Cao Thị Mộng Đ, Cao Thị iều O. Hiện không có mặt t i địa ch tr n, bỏ địa phương đi đâu không rõ, đi khoảng tháng 6/2020 đến na . Tu nhi n, quá trình th lý, giải qu ết của Tòa cấp sơ thẩm ch tống đ t các văn bản tố t ng cho bà Mai Thị Đ là mẹ ruột và chị Cao Thị M H là chị ruột của anh L nhà kế b n và có hộ khẩu ri ng, mà không thực hiện ni m ết công khai.
T i bi n bản lấỵ lời khai của bà Đ và chị H ngà 07/01/2021 của Tòa cấp sơ thẩm, bà Đ, chị H khai là có nhận thông báo th lý, thông báo phi n hòa giải của Tòa nhưng cho rằng có thông báo nhưng anh L không về và không biết anh L đâu.
T i bi n bản lấ lời khai của bà Đ, chị H ngày 20/12/2021 của Tòa án hu ện N (theo ủ thác thu thập chứng cứ của Tòa cấp phúc thấm) thì bà Đ, chị H xác định có nhận các văn bản của Tòa thay cho anh L nhưng không li n l c được với anh L nên không thông báo gì cho anh L biết.
Theo Phiếu báo phát t i bút l c 53,70 th hiện phát chu n Qu ết định hoãn phi n tòa số 19 ngà 10.3.2021 và Bản án sơ thẩm số 28 ngà 26.3.2021 cho bà Đ chứ không phải chu n phát cho anh L. Mặt khác, Qu ết định hoãn phi n tòa số 19 ngà 10.3.2021, ấn định ngà m l i phi n tòa lúc 8 giờ ngà 26/3/2021 nhưng Phiếu báo phát cho bà Đ (bút l c 53) thì dấu Bưu c c B ngày 16/3/2021 đến dấu Bưu c c N là ngà 26/3/2021 cũng là ngà m phi n tòa xét xử của Tòa cấp sơ thẩm.
Cho thấ , việc Tòa cấp sơ thẩm cấp, tống đ t, thông báo các văn bản tố t ng và triệu tập đối với anh L là chưa đúng qu định t i các Điều 175, 177, 179, 180, khoản 3 Điều 233 BLTTDS.
Ngoài ra, hồ sơ th hiện Bi n bản tống đ t (bút l c 37) lúc 15 giờ 17 phút ngày 07/01/2021 do Thẩm phán Ngu n Hoàng G trực tiếp Thông báo kết quả phi n h p số 01 ngà 05/01/2021 cho anh L t i nhà anh L ấp T, xã C, hu ện N, t nh An Giang do bà Đ nhận tha và bi n bản kết thúc lúc 15 giờ 32 phút cùng ngà . Tu nhi n, theo Bi n bản lấ lời khai người làm chứng (bút l c 38,39) thì t i tr s Tòa án nhân dân hu ện B, t nh Đồng Tháp, Thẩm phán Ngu n Hoàng G cùng Thư ký Ngu n Minh T tiến hành lấ lời khai của bà Đ và chị H từ 15 giờ 32 phút đến 16 giờ 20 phút cùng ngà 07/01/2021. Cho thấ , cùng một thời đi m mà Thẩm phán Ngu n Hoàng G thực hiện 02 công việc 02 địa giới hành chính cách xa nhau là không đúng n n 02 tài liệu tr n là chưa phù hợp.
Xét thấ , Tòa cấp sơ thẩm đã vi ph m nghi m tr ng về thủ t c tố t ng trong quá trình giải qu ết v án, ảnh hư ng đến qu ền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tòa cấp phúc thẩm không th khắc ph c được n n cần hủ bản án sơ thẩm và chu n hồ sơ v án cho Tòa cấp sơ thẩm giải qu ết l i v án theo thủ t c sơ thẩm. Do đó, chưa xem xét kháng cáo của anh S.
Từ những phân tích tr n, đề nghị Hội đồng xét xử hủ bản án sơ thẩm và chu n hồ sơ v án cho Tòa án cấp sơ thẩm đ giải qu ết l i v án theo thủ t c sơ thẩm.
Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra t i phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng t i phi n tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
[1] Anh C kh i kiện đối với anh S, anh L về việc u cầu trả tiền mua lúa còn thiếu và tính lãi chậm trả. Do đó, Tòa án hu ện B th lý giải qu ết v án dân sự tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản là phù hợp qu định của pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt của anh L t i phi n tòa là phù hợp, b i vì: T i bi n bản lấ lời khai ngà 07/01/2021, bà Mai Thị Đ và chị Cao Thị M H (mẹ và em của anh L) xác nhận đã có nhận tha cho anh L các văn bản tố t ng của Tòa án cấp sơ thẩm, như Thông báo th lý v án, Thông báo phi n h p ki m tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời có điện tho i báo cho anh L biết nhưng anh L cho rằng, đến khi anh về đám giỗ gia đình b n vợ rồi sẽ về nhà luôn nhưng anh L không về. Mặt khác, anh S thừa nhận giấ nợ mua bán lúa do anh S cùng với anh L ký t n và theo nội dung giấ nà 02 đương sự cam kết đến ngà 04/01/2020 sẽ trả nợ cho anh C, nhưng anh L đi nơi khác cư trú mà không thông báo địa ch mới cho ông Chờ biết (khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự). Anh L vẫn còn giữ li n l c qua điện tho i với bà Đ, chị H (nhà anh L và nhà bà Đ liền kề nhau) vào thời đi m Tòa án tống đ t Thông báo th lý v án, nên đã biết việc anh C kh i kiện u cầu trả nợ nhưng không cung cấp địa ch cư trú mới cho bà Đ, chị H biết n n thuộc trường hợp cố ý giấu địa ch (đi m a khoản 2 Điều 6 của Nghị qu ết số 04/2017/HĐTP ngà 05/5/2017). Thực tế, bà Đ và chị H đã nhận tha Qu ết định đưa v án ra xét xử và triệu tập anh L đến phi n tòa, Qu ết định hoãn phi n tòa, Bản án sơ thẩm nhưng anh L cũng không có kháng cáo theo qu định. Anh L cũng không có mặt t i phi n tòa phúc thẩm theo giấ triệu tập hợp lệ của Tòa án T nh n n xét xử phúc thẩm vắng mặt theo qu định.
2 ét thấ , việc anh C thỏa thuận bán lúa cho anh S và anh L là có cơ s , b i vì: Nội dung giấ nợ mua bán lúa (không ghi ngà tháng năm) th hiện anh S và anh L cùng mua lúa của anh C. Anh S và anh L ký t n giấ nợ số tiền 550.000.000đ (chưa trừ tiền c c) và cam kết trả trong thời h n từ ngà 03/01/2020 đến ngà 04/01/2020. Tuy nhiên, anh C cho rằng đã thanh toán ch còn nợ l i 395.000.000đ. Anh S thừa nhận việc thỏa thuận hợp tác với anh L mua lúa của anh C 584.478kg, giá 4.600đ/kg thành tiền 2.690.000.000đ, nhưng do thua lỗ n n anh S, anh L ch có khả năng trả cho anh C 2.295.000.000đ, còn nợ l i 395.000.000đ (Tờ tự khai ngà 21/11/2020, bút l c 23). Ông D khai, ông có tham gia thỏa thuận giá lúa với nông dân đ cho anh S, anh L cân lúa (mua lúa) và trực tiếp trả tiền cho anh C; anh L viết giấ nợ, ký t n và được anh S ký t n thừa nhận nợ; ông D có ký t n làm chứng trong giấ nợ tiền mua lúa.
Anh S cho rằng, theo thỏa thuận thì anh L ph trách việc hợp đồng bán lúa cho Công ty T, còn anh S ch thỏa thuận giá lúa mua của nông dân. Do Công ty T còn thiếu tiền mua lúa của anh S 500.000.000đ mới dẫn đến việc thiếu nợ anh C. Hơn nữa, anh L thu giữ tiền bán lúa bỏ địa phương đi nơi khác nhằm trốn tránh trách nhiệm, trong khi đó anh S có chi tiền cá nhân đ trả nợ là 260.000.000đ, n n không đồng ý li n đới trách nhiệm với anh L trả nợ cho anh C. Nhận thấ , việc thỏa thuận giữa anh S, anh L với Công ty T là giao dịch khác không li n quan đến hợp đồng mua bán lúa của anh C và Tòa án cấp sơ thẩm chưa có giải qu ết n n Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.
3 Đối với u cầu tính lãi: Anh S và anh L cam kết đến ngà 04/01/2020 sẽ thanh toán tiền xong cho anh C, nhưng chưa thực hiện đầ đủ đúng thời h n ghi trong giấ nợ mua bán lúa , n n phải tính lãi đối với số tiền 395.000.000đ, mức lãi suất 0,83 /tháng (Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015), thời h n tính từ ngà 04/01/2020 đến ngà xét xử sơ thẩm là 14 tháng 22 ngà . Như vậ phải chịu số tiền lãi 48.303.233đ là phù hợp.
Qua nội dung tr n cho thấ , anh C thỏa thuận bán lúa cho anh S và anh L là tự ngu ện phù hợp qu định của pháp luật, anh C đã thực hiện ngh a v giao hàng hóa xong. Vì vậ , anh S và anh L cùng li n đới trách nhiệm trả số tiền vốn và lãi nói tr n, n n kháng cáo của anh S là có một phần cơ s đ chấp nhận (tiền lãi).
4 Đ i diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp đề nghị hủ án sơ thẩm. Tu nhi n việc th lý và xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp qu định của pháp luật n n không phải hủ án.
Do đó, chấp nhận một phần u cầu kháng cáo của anh S, sửa một phần bản án sơ thẩm. Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
5 n phí: Anh S không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 147, 148, 227, 228, 266, 271, 273, khoản 2 Điều 308 và Điều 483 của Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015; Điều 357, 430, 440 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH 14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban Thường v Quốc hội qu định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần u cầu kháng cáo của anh L Văn S.
Sửa một phần bản án sơ thẩm.
2. Chấp nhận một phần u cầu của anh Võ Ng c C.
Buộc anh L Văn S và anh Cao Văn L li n đới trách nhiệm trả cho anh Võ Ng c C số tiền 443.303.233đ.
từ khi có đơn u cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền tr n, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi tương ứng với thời gian chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong, theo mức lãi suất qu định t i Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Anh L Văn S và anh Cao Văn L li n đới trách nhiệm chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 21.732.000đ.
Anh L Văn S không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả l i cho anh S tiền t m ứng án phí 300.000đ theo bi n lai số 0014379 ngà 12/4/2021 của Chi c c Thi hành án dân sự hu ện B, t nh Đồng Tháp.
Anh Võ Ng c C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả l i cho anh C tiền t m ứng án phí 9.875.000đ theo bi n lai số 0006760, ngà 13/10/2020 của Chi c c Thi hành án dân sự hu ện B, t nh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo qu định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có qu ền thỏa thuận thi hành án, u cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qu định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qu định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngà tu n án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - V SND T nh; - TAND hu ện B; - Chi c c THADS hu ện B; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T A Nguyễn Ngọc Vạng |